CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TNXHDN VỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NHTMCP 1. Khái quát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Lịch sử hình thành và phát triển quan niệm về TNXHDN Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được manh nha từ những năm 1917 và dần dần được hợp lý hóa thông qua một quá trình từ từ và khó khăn. Trong suốt ba thập kỷ qua, khái niệm TNXHDN đã được hợp lý hóa dần dần và trở nên gắn liền với các mục tiêu tổ chức lớn hơn như danh tiếng và quyền lợi của các bên liên quan.
Thuật ngữ TNXHDN xuất hiện chính thức lần đầu tiên năm 1953 trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessmen) của tác giả Howard Rothmann Bowen nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Từ đó đến nay, thuật ngữ này đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Bảng sau đây tóm tắt sự phát triển các quan niệm về TNDNXH : Bảng 1. Sự hình thành và phát triển khái niệm về TNXHDN Năm Sự phát triển khái niệm về TNXHDN - Cuốn sách “Social Responsibilities of the Businessmen” (Trách nhiệm xã hội của doanh nhân) 1953 - Tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm Bowen tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội.
17 SVTH: Ngô Lê Thảo Nhi , K49C – Kế toán of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú - Cuốn sách “Capitalism and Freedom” (Chủ nghĩa tư bản và Sự tự do) 1970 - Có một và chỉ một trách nhiệm duy nhất đó là tối đa hóa lợi Friedman nhuận trong khuôn khổ luật chơi của thị trường và không bao gồm các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận. 1975 - TNXHDN hàm ý nâng cao hành vi của DN lên một mức Prakas Sethi phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội 1979 - TNXHDN bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một Caroll thời điểm nhất định - TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào 2003 việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động Nhóm Phát triển nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và Kinh tế Tư nhân của các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, Ngân hàng Thế giới theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội. 2006 - TNXHDN là sự mô tả hiện tượng mà các doanh nghiệp hành động đạt được cả mục tiêu kinh tế, pháp luật với mục Dahlsrud tiêu xã hội và môi trường.
- TNXHDN là những hoạt động tích cực của DN đối với các 2008 bên liên quan. Các hoạt động này có thể là những hoạt động về cải thiện chất lượng sản phẩm, quan tâm đến người lao Duygu Turker động, cải thiện chất lượng cuộc sống, chấp hành pháp luật hay giúp đỡ chính phủ giải quyết những vấn đề về xã hội. - TNXHDN là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc 2010 phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn Hội đồng Kinh mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, Doanh Thế giới về quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển Sự Phát Triển nhân viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm chất lượng sản Bền Vững phẩm… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.” - Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp gồm 7 nhân tố 2013 cốt lõi: Quản trị doanh nghiệp, quyền con người, thực hành ISO 26000 lao động, môi trường, thực tiễn hoạt động công bằng, vấn đề người tiêu dùng, sự tham gia và phát triển của cộng đồng 18 SVTH: Ngô Lê Thảo Nhi , K49C – Kế toán of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Quốc Tú Nguồn: Tự tổng hợp 19 SVTH: Ngô Lê Thảo Nhi , K49C – Kế toán of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Khái niệm Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Hiện nay vẫn còn tồn tại một số tranh cãi liên quan đến một định nghĩa rõ ràng và thống nhất về TNXHDN do bản thân khái niệm này là một thuật ngữ không rõ ràng và rắc rối với nhiều tầng ý nghĩa. Bên cạnh đó, mỗi học giả trên thế giới lại có những cái nhìn khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sử dụng những thuật ngữ khác nhau để giải thích về vấn đề này như là đạo đức doanh nghiệp, doanh nghiệp bền vững, đầu tư trách nhiệm xã hội và trách nhiệm doanh nghiệp…Một lý do khác là do sự không ngừng thay đổi và vận động của bản thân khái niệm TNXHDN để phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Dù được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau song nội hàm phản ánh của TNXHDN về cơ bản đều có điểm chung là bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội. Nội hàm của TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp, trong đó, có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên, môi trường mà thực chất cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.
Trên thế giới có rất nhiều bộ tiêu chuẩn đã ra đời để hướng dẫn và thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của mình, trong số đó có các tiêu chuẩn mang tính ràng buộc pháp lý và một số bộ tiêu chuẩn mang tính chất khuyến khích, không bắt buộc. Các tiêu chuẩn mang tính ràng buộc pháp lý thường được nêu trong các quy định trong luật và các văn bản dưới luật. Vì TNXHDN là một vấn đề lớn bao trùm nhiều chủ đề nên có thể nói các bộ luật về môi trường, kinh doanh, lao động và các quy định khác của nhà nước đều có thể được coi là những tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế khác cũng đã rất nỗ lực đưa ra những bộ tiêu chuẩn mang tính khuyến khích, hướng dẫn thực hiện và đánh giá mức độ thực hiện 20 SVTH: Ngô Lê Thảo Nhi , K49C – Kế toán of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Quốc Tú TNXHDN. Trong các bộ tiêu chuẩn này, rất nhiều vấn đề TNXHDN được đề cập tới như bộ tiêu chuẩn BSCI có 9 nội dung về TNXHDN, SA 8000 có 10 nội dung về TNXHDN, ISO 26000 có 7 chủ đề với 39 nội dung bao trùm tất cả các nội dung của TNXHDN. Có thể thấy, với sự đa dạng của các bộ tiêu chuẩn và tính toàn diện của vấn đề TNXHDN, việc đánh giá mức độ thực hiện TNXHDN không hề đơn giản và cần có những tiêu chí cụ thể, toàn diện. Hiện nay quan điểm về TNXHDN được xem như là toàn diện và bao phủ toàn bộ các đặc điểm TNXHDN, đó là khái niệm của Hội đồng doanh nghiệp thế giới về phát triển bền vững.
Cùng với quan điểm cho rằng ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp và dựa trên việc tổng hợp các khái niệm đã nêu, trong khuôn khổ nghiên cứu này em sử dụng khái niệm trách nhiệm xã hội của ngân hàng theo cách tiếp cận tiêu chuẩn ISO 26000 là nền tảng: “Trách nhiệm xã hội của ngân hàng là sự tự nguyện của ngân hàng cam kết thực hiện tốt các vấn đề về quản trị công ty, quyền con người, thực hành lao động, môi trường,công bằng trong hoạt động, khách hàng và cộng đồng trên cơ sở tuân thủ các luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế và đảm bảo hài hòa lợi ích các bên đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội quốc gia một cách bền vững”. Theo lý thuyết khế ước xã hội Khế ước xã hội là một thỏa thuận ngụ ý giữa người bị cai trị và người cai trị. Lý thuyết khế ước xã hội là một lý thuyết chính trị chiếm ưu thế trong lịch sử hiện đại của phương Tây, lần đầu tiên được giải thích kỹ bởi Thomas Hobbes và được giải thích thêm và sửa đổi bởi John Locke và Jean-Jacques Rousseau. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp phải hành động một cách có trách nhiệm không chỉ vì đó là lợi ích thương mại của mình phải làm như vậy, bởi đó là một phần những giá trị ẩn mà xã hội kỳ vọng từ những hoạt động của doanh nghiệp.
Hơn nữa, theo các mô hình khế ước xã hội, một doanh nghiệp được coi là một tổ chức xã hội và nên tham gia với các cấu trúc xã hội khác như gia đình, hệ thống giáo dục và các tổ chức tôn giáo để giúp nâng cao đời sống và đáp ứng nhu cầu. 21 SVTH: Ngô Lê Thảo Nhi , K49C – Kế toán of Economics, Hue University Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực bao hàm mạnh mẽ ý nghĩa về cấu trúc phân chia tối ưu của tổ chức, tuyển dụng các thành viên Hội đồng quản trị, tuyển dụng nhân viên, chiến lược sản xuất, cơ cấu hợp đồng, liên kết tổ chức bên ngoài và nhiều khía cạnh khác của chiến lược tổ chức. Lý thuyết này bao gồm 3 yếu tố cốt lõi đó là bối cảnh xã hội, chiến lược để tăng cường quyền tự chủ và sử dụng quyền lực để hiểu các hành động bên trong và bên ngoài tổ chức.
Chỉ ra rằng để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, TNXHDN có thể được sử dụng để tạo ra lợi thế cạnh tranh chiến lược. Theo lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976. Lý thuyết đại diện là sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát của công ty và giải thích mối quan hệ giữa chủ và người đại diện.