Chương 1: Giới thiệu. Chương này nêu vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu thực nghiệm về tác động của trách nhiệm xã hội đối với kết quả tài chính. Cụ thể bao gồm các nội dung xem xét các tài liệu về CSR và kết quả tài chính bắt đầu với một cuộc thảo luận về nền tảng lý thuyết liên quan đến việc công bố CSR, sau đó xem xét các mô hình về mối quan hệ giữa công bố CSR và kết quả tài chính từ các tác giả nước ngoài và Việt Nam, cuối cùng chương này nêu việc lựa chọn biến, mô hình và kỳ vọng dấu các biến. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Chương 3: Phương pháp, quy trình nghiên cứu và dữ liệu với nội dung bao gồm dữ liệu và phương pháp nghiên cứu liên quan đến lựa chọn mẫu nghiên cứu, quy trình thực hiện và các kiểm tra kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ tiến hành phân tích định tính thực trạng trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và giải thích các kết quả nghiên cứu định lượng. Chương này cũng thảo luận các kỹ thuật phân tích được đề cập trong Chương 3 dựa trên các kỳ vọng dấu các biến trong chương 2. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra một vài hàm ý chính sách, những hạn chế và đề xuất cho các hướng nghiên cứu tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI KẾT QUẢ TÀI CHÍNH Mục đích của chương này là trình bày tổng quan tài liệu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) bao gồm các nghiên cứu liên quan đến lý thuyết nền tảng về công bố CSR ở Việt Nam và các quốc gia khác và mối quan hệ giữa công bố CSR và kết quả tài chính. Chương này được trình bày như sau: mục 2.1 gồm nội dung định nghĩa về CSR, kết quả tài chính và cung cấp các tài liệu về lý thuyết nền tảng của việc công bố CSR trong đó lý thuyết hợp pháp và lý thuyết các bên liên quan được thảo luận trong phần này.2, một số mô hình nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến công bố CSR và kết quả tài chính trong bối cảnh quốc tế và Việt Nam.3 sẽ trình bày việc lựa chọn mô hình và đo lường các biến của nghiên cứu, các kỳ vọng dấu của tác giả dựa trên các nghiên cứu trước. Các khái niệm và lý thuyết có liên quan 2. Định nghĩa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) và kết quả tài chính (CFP) 2.
Trách nhiệm xã hội Hiện nay vẫn còn tồn tại một số tranh cãi liên quan đến một định nghĩa rõ ràng và thống nhất về CSR do bản thân khái niệm này là một thuật ngữ không rõ ràng và rắc rối với nhiều tầng ý nghĩa (Nasrullah và Rahim, 2014). Bên cạnh đó, mỗi học giả trên thế giới lại có những cái nhìn khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sử dụng những thuật ngữ khác nhau để giải thích về vấn đề này như là đạo đức doanh nghiệp, doanh nghiệp bền vững, đầu tư trách nhiệm xã hội và trách nhiệm doanh nghiệp… Một lý do khác là do sự không ngừng thay đổi và vận động của bản thân khái niệm CSR để phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Kotler và Lee (2005) đã xác định trách nhiệm xã hội của công ty là “cam kết cải thiện hạnh phúc cộng đồng thông qua các hoạt động kinh doanh và đóng góp cho các nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 lực doanh nghiệp” và “các sáng kiến xã hội của doanh nghiệp là các hoạt động chính được công ty thực hiện để hỗ trợ xã hội và thực hiện cam kết trách nhiệm xã hội của công ty” (tr. Để định nghĩa trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ các phạm vi nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội, Carroll (1979) thể hiện CSR bao gồm các phạm trù kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
Bốn kỳ vọng cơ bản này phản ánh quan điểm về trách nhiệm xã hội có liên quan đến một số định nghĩa được đưa ra trước đó nhưng phân loại trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp một cách toàn diện hơn. Mặc dù tất cả các khía cạnh này luôn tồn tại đồng thời cho các tổ chức kinh doanh, lịch sử kinh doanh cho thấy sự nhấn mạnh sớm vào các khía cạnh kinh tế và pháp lý và sau đó là mối quan tâm về các khía cạnh đạo đức và từ thiện. Hơn nữa, bất kỳ trách nhiệm hoặc hành động nhất định của doanh nghiệp có thể có động cơ kinh tế, pháp lý, đạo đức hoặc từ thiện thể hiện trong đó. Ngoài ra, có hai quan điểm về CSR được xem như là toàn diện và bao phủ toàn bộ các đặc điểm CSR, đó là khái niệm của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu (EC) và Hội đồng doanh nghiệp thế giới về phát triển bền vững (WBCSD) + Theo Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về phát triển bền vững: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội”.
+ Theo Ủy ban Cộng đồng Châu Âu: “Trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của doanh nghiệp về tác động của họ đối với xã hội. CSR nên là công ty dẫn đầu. Các cơ quan công quyền có thể đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc kết hợp thông minh các biện pháp chính sách tự nguyện và khi cần thiết, bổ sung quy định. Các công ty có thể trở nên có trách nhiệm với xã hội bởi các yếu tố: theo luật, tích hợp các mối quan tâm về xã hội, môi trường, đạo đức, người tiêu dùng và nhân quyền vào chiến lược và hoạt động kinh doanh của họ”.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 22 Như đã nêu ở trên, mục tiêu chính của nghiên cứu này là để điều tra mối quan hệ giữa công bố CSR và kết quả tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Các hoạt động CSR ở Việt Nam vẫn còn trên cơ sở tự nguyện nhằm đáp ứng mong đợi của tất cả các bên liên quan. Vì vậy, có một kỳ vọng rằng thông qua đầu tư vào các hoạt động CSR, các công ty Việt Nam có thể cải thiện kết quả tài chính của họ. Nói cách khác, các bên liên quan mong muốn có được một cái gì đó nhiều hơn, khác hơn là các sản phẩm hoặc dịch vụ đơn giản.
Do đó, CSR dự kiến sẽ mang lại lợi ích bổ sung cho các công ty. Trong khuôn khổ nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo cách tiếp cận của lý thuyết hợp pháp, lý thuyết các bên liên quan kết hợp với tiêu chuẩn GRI Standard (GRI- GSSB), Thông tư 155 và cách tiếp cận CSR của Carroll là nền tảng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự tự nguyện của doanh nghiệp cam kết thực hiện tốt các vấn đề về kinh tế, môi trường và xã hội trên cơ sở tuân thủ các luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế và đảm bảo hài hòa lợi ích các bên đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội quốc gia một cách bền vững”. Kết quả tài chính Trong chiến lược kinh doanh và quản lý ngày nay, người ta tin rằng hiệu quả tài chính là một trong những khái niệm quan trọng nhất. Hơn nữa, kết quả tài chính là mục tiêu mà tất cả các công ty phải cải thiện để tồn tại hay để thỏa mãn các bên liên quan của nó.
Mặc dù có một số lượng lớn các tài liệu và nghiên cứu xem xét kết quả tài chính như là biến phụ thuộc chính, nhưng những định nghĩa chính xác và phổ biến của kết quả tài chính vẫn không tồn tại (Richard và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu liên quan đến kết quả tài chính cho kết quả khác nhau do thiếu sự đồng thuận, do cách đo lường khác nhau về kết quả tài chính của công ty. Glick và cộng sự (2005) cho rằng các nhà nghiên cứu có xu hướng sử dụng chỉ có một hoặc một số chỉ số để đại diện cho kết quả tài chính. Theo lời của Frich Kohlar, kết quả tài chính đề cập đến hành động thực hiện hoạt động tài chính.
Theo nghĩa rộng hơn, kết quả tài chính đề cập đến mức độ mà các mục tiêu tài chính đang hoặc đã hoàn thành. Đây là quá trình đo lường kết quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 23 của các chính sách và hoạt động của một công ty về mặt tiền tệ. Nó được sử dụng để đo lường sức khỏe tài chính tổng thể của công ty trong một khoảng thời gian nhất định và cũng có thể được sử dụng để so sánh các công ty tương tự trong cùng ngành hoặc để so sánh các ngành hoặc lĩnh vực tổng hợp. Kết quả tài chính của một công ty có thể được đánh giá bởi một số chỉ tiêu dựa trên kế toán hoặc tài chính của công ty đó.
Các chỉ số này có xu hướng đo lường lợi nhuận công ty bằng cách quan sát tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty. Có rất nhiều các chỉ tiêu đo lường kết quả tài chính DN, song các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai nhóm chính: Nhóm chỉ tiêu thứ nhất, sử dụng công cụ kế toán được nhiều tác giả sử dụng trong các công trình nghiên cứu trước đây, đó là tỷ suất giữa kết quả đạt được (thu nhập thuần, lợi nhuận ròng) và các yếu tố đầu vào (tài sản, nguồn vốn, vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu); Nhóm chỉ tiêu thứ hai, gồm các mô hình kinh tế dựa trên giá trị thị trường. - Về nhóm chỉ tiêu thứ nhất: Để đo lường kết quả tài chính DN, chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hiện là hai hệ số được sử dụng phổ biến nhất. Chỉ tiêu ROA được tính bằng cách lấy chỉ tiêu “Lợi nhuận” chia cho chỉ tiêu “Tổng tài sản”, chỉ tiêu ROE được tính bằng cách lấy chỉ tiêu “Lợi nhuận” chia cho chỉ tiêu “Vốn chủ sở hữu”.