chương 1 cũng đã trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, đóng góp của đề tài cũng như kết cấu dự kiến của đề tài. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG TÀI SẢN, THU NHẬP NGOÀI LÃI VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN TRONG NGHIÊN CỨU 2. Chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại NHTM là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất, thực hiện chức năng luân chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu với các hoạt động cơ bản gồm: huy động vốn, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, nhằm theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.
Theo Rose (2013), hoạt động thường xuyên của NHTM là huy động vốn, cung cấp các khoản cho vay dành cho các chủ thể trong nền kinh tế, và cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm đạt được mục tiêu về lợi nhuận. Các hoạt động của ngân hàng đều được phản ánh thông qua các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán. Để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng phải quan tâm đến quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản. Tài sản có của ngân hàng, theo Nguyễn Văn Tiến (2013) bao gồm ngân quỹ, các khoản đầu tư, dư nợ các khoản cho vay và tài sản cố định.
Trong đó, tài sản sinh lời chiếm tỷ trọng cao và mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng là dư nợ cho vay khách hàng. Mặc dù vậy, tài sản sinh lời cao này cũng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Do đó, chất lượng tài sản của ngân hàng thường gắn liền với chất lượng của các khoản cho vay. Trong nghiên cứu của Kadioglu, Telceken & Ocal (2017), chất lượng tài sản của ngân hàng liên quan đến chất lượng cho vay và có thể đo lường bằng nợ quá hạn, nợ xấu.
Theo đó, các khoản nợ quá hạn, nợ xấu là các khoản nợ mà người vay không thực hiện đúng, hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như cam kết trong hợp đồng tín dụng. Quan điểm này cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Baral (2005) với chất lượng tài sản của ngân hàng được phản ánh thông qua rủi ro gắn liền với các khoản nợ. NHTM là trung gian tài chính nên NHTM có 03 mục tiêu quan trọng là: Lợi nhuận, Tăng trưởng tài sản và Đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động. Do đó, chất lượng tài sản là một trong những khía cạnh quản lý quan trọng của ngân hàng để đảm bảo lợi nhuận, an toàn trong quá trình 11 hoạt động.
Đồng thời, cũng tạo điều kiện cho sự tăng trưởng tài sản của ngân hàng. Thông qua chất lượng tài sản có thể đánh giá được phần nào sức khỏe tài chính của ngân hàng. Theo Cheruiyot (2015), chất lượng tài sản là nhiệm vụ của các nhà quản lý ngân hàng, liên quan đến việc kiểm tra các khoản nợ để thiết lập mức độ, quy mô rủi ro tín dụng cho hoạt động của nó. Như vậy, có thể hiểu chất lượng tài sản của ngân hàng gắn liền với chất lượng của các khoản cấp tín dụng của ngân hàng.
Một ngân hàng có chất lượng tài sản cao khi tỷ lệ nợ quá hạn được duy trì ở mức thấp, nằm trong quy định giới hạn của cơ quan quản lý, và mục tiêu của ngân hàng. Chất lượng tài sản ngân hàng có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng thanh khoản cũng như khả năng sinh lời của ngân hàng. Nếu ngân hàng không kiểm soát tốt chất lượng tài sản để cho tình trạng khách hàng vay vốn chậm trả nợ, hoặc không trả đủ nợ gốc và lãi theo thỏa thuận thì ngân hàng đó được xem là có chất lượng tài sản thấp. Các khoản nợ quá hạn sẽ đẩy ngân hàng gặp căng thẳng về thanh khoản do những dự báo về dòng tiền thu và chi không chính xác.
Bên cạnh đó, chất lượng tài sản của ngân hàng còn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, việc khách hàng chậm trả nợ sẽ làm ngân hàng gia tăng chi phí, tác động đến lợi nhuận của ngân hàng. Nếu ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ và phá sản. Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Waweru và Kalani (2009) khi nhiều ngân hàng sụp đổ vào năm 1986 liên quan đến tài sản của các ngân hàng có chất lượng thấp. Vì vậy, chất lượng tài sản cũng được xem như là yếu tố quan trọng để đánh giá tính lành mạnh trong hoạt động nói chung, và tình trạng tài chính nói riêng của ngân hàng.
Mặc dù là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hoạt động ngân hàng, nhưng chất lượng tài sản lại là yếu tố phức tạp và có nhiều khía cạnh tiếp cận khác nhau. Để đánh giá chất lượng tài sản của ngân hàng, nghiên cứu của Agusman và cộng sự (2014); Martinez Peria & Schmukler (2001); Nier & Baumann (2006) sử dụng chỉ tiêu LLP - tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng để đo lường chất lượng tài sản ngân hàng. Chỉ tiêu này được đo lường bằng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng/thu nhập lãi thuần của ngân hàng. LLP vừa thể hiện chất lượng tài sản, vừa theo dõi tình hình nợ xấu được xử lí ảnh hưởng đến thu nhập ra sao?.
Nếu ngân 12 hàng không thực hiện trích lập đầy đủ có thể dẫn đến tình trạng giảm vốn và mất khả năng thanh toán. Do đó, đây là chỉ tiêu được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về chất lượng tài sản ngân hàng trong mối quan hệ với khả năng sinh lời của ngân hàng. Thu nhập ngoài lãi của Ngân hàng Thương mại Nguồn thu nhập của ngân hàng rất đa dạng, từ những hoạt động kinh doanh chính cho đến những hoạt động kinh doanh sinh lời khác được pháp luật của từng quốc gia cho phép. Vì vậy, căn cứ vào đặc điểm kinh doanh có thể chia nguồn thu nhập của NHTM thành hai thành phần: Thu nhập lãi và Thu nhập ngoài lãi.
Trong đó: Thu từ lãi, gồm các khoản thu từ hoạt động cho vay của ngân hàng, và đây là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của ngân hàng (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Với đặc điểm là trung gian tài chính, hoạt động tín dụng được xem là hoạt động kinh doanh chính và mang lại nguồn thu chủ yếu đối với các ngân hàng. Tuy nhiên, tăng trưởng thu nhập từ tín dụng trong tương lai sẽ chịu nhiều áp lực từ nền kinh tế nói chung và sự phát triển thị trường tài chính nói riêng. Các doanh nghiệp sẽ có nhiều kênh để huy động vốn hơn, thay vì tín dụng ngân hàng và biên lợi nhuận từ tín dụng sẽ giảm đi.
Do đây là nguồn thu gắn liền với hoạt động tín dụng nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường có nhiều bất ổn. Vì vậy, các ngân hàng hiện đại có xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào thu nhập từ lãi mà gia tăng thu nhập ngoài lãi. Thu nhập ngoài lãi, theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) là các khoản thu nhập đến từ các hoạt động không có lãi suất như: Hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý; kinh doanh chứng khoán, góp vốn, thu nợ đã xóa, thu khác không có lãi suất và các hoạt động dịch vụ khác. Theo Stiroh (2004), thu nhập ngoài lãi là khoản thu của ngân hàng đến từ nhiều hoạt động khác nhau, không gắn liền với hoạt động tín dụng, bao gồm các khoản thu nhập đến từ thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, lệ phí và các khoản thu nhập khác.
Đây là các hoạt động gắn liền với việc thu phí dịch vụ và hoa hồng do các ngân hàng thực hiện thông qua việc cung cấp các dịch vụ của ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ 13 chức và cá nhân nhằm thu được lợi nhuận. Điển hình cho loại dịch vụ này là dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh…. Theo Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) thì thu nhập ngoài lãi được tổng hợp từ 3 thành phần gồm: Thu nhập từ dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư; Thu nhập khác. Nguồn thu nhập ngoài lãi ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của ngân hàng.
Việc chuyển dịch cơ cấu thu nhập của ngân hàng phản ánh quá trình đa dạng hóa nguồn thu nhập, giúp ngân hàng giảm lệ thuộc vào tăng trưởng tín dụng, giảm thiểu rủi ro hoạt động, gia tăng khả năng cạnh tranh. Sự phát triển đa dạng các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Với đặc điểm tạo ra nguồn thu từ phí, hoa hồng, các khoản thu này được đánh giá là ít rủi ro hơn so với nguồn thu từ hoạt động tín dụng, nên trở thành nguồn thu ổn định của ngân hàng, và đang dần trở thành một trong những hoạt động tạo ra thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu thu nhập, các ngân hàng có cơ hội và động lực để cải tiến không ngừng hoàn thiện từng bộ phận trong tổ chức của mình, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng.
Việc mở rộng các hoạt động kinh doanh ngoài lãi sẽ giúp cho NHTM tăng doanh thu và lợi nhuận. Trong số các nguồn thu nhập ngoài lãi thì nguồn thu từ hoạt động dịch vụ ngày càng nổi bật. Những hoạt động như dịch vụ thanh toán, môi giới, tư vấn dịch vụ, bảo hiểm, hoạt động bảo lãnh, thư tín dụng, ủy thác và trung gian ngân quỹ, viễn thông,… ngày càng đóng vai trò quan trọng khi nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Có thể kể đến như dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang phát triển rất mạnh như hiện nay, đây là bằng chứng cụ thể nhất trong việc đáp ứng tốt thị hiếu của khách hàng.
Tùy vào từng sản phẩm, dịch vụ bán lẻ mà từng ngân hàng cung cấp, khách hàng sẽ nhận được mức độ tiện ích, tính năng sản phẩm và sẽ phải trả các mức phí dịch vụ khác nhau tương ứng, phù hợp với mỗi người. Lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại NHTM là một tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cung cấp các khoản vay (hay là bên kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn), 14 cũng như cung cấp các dịch vụ khác theo quy định, nhằm mục tiêu lợi nhuận.