CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thay đổi công nghệ a. Nghiên cứu về cách tiếp cận và loại hình thay đổi công nghệ Nathan Rosenberg (1963) cho rằng TĐCN là một khái niệm có hai nghĩa: Nghĩa rộng, TĐCN là phổ biến phát minh hoặc công nghệ mới trong xã hội. TĐCN quan tâm đến tác động của công nghệ đối với cuộc sống của con người (thất nghiệp, văn hóa).
Nghĩa hẹp, TĐCN được phân biệt hoặc tách biệt khỏi những vấn đề văn hóa, xã hội và được hiểu là thay đổi phương pháp hoặc kỹ thuật sản xuất công nghiệp. TĐCN liên quan đến các công ty và kỹ thuật sản xuất như là công cụ để duy trì hoặc tăng năng suất. Nghiên cứu của Doms và cộng sự (1997), tiếp cận TĐCN theo nghĩa hẹp mà Nathan Rosenberg đã đề cập, dưới góc độ sử dụng các công nghệ tiên tiến (kỹ thuật sản xuất mới) sẽ dẫn đến việc tăng nhu cầu về LĐ có trình độ cao hơn. Tương tự, Đặng Đình Thắng (2015) cho rằng các nhà đầu tư và DN sẽ có xu hướng tìm kiếm và ứng dụng các công nghệ mới nhằm làm giảm nhu cầu sử dụng các đầu vào được định giá cao hơn trên thị trường.
Fisher cho rằng việc tăng cường sử dụng máy móc và phương pháp trồng trọt mới đã tạo điều kiện cho người nông dân có thể phát triển sản xuất, giúp giải phóng được một lực lượng lao động (LLLĐ) nông nghiệp ra khỏi khu vực nông thôn để chuyển sang làm việc ở môi trường hiện đại hơn (tham khảo qua Gillis, M. Nghiên cứu của Acemoglu (2002), chỉ ra các công nghệ mới đầu thế kỉ XIX thay thế kỹ năng bởi vì biên giới công nghệ khi đó chỉ cho phép phát minh ra các kỹ thuật thay thế kỹ năng. Nghiên cứu của Benoît Godin (2015) hệ thống ba cách tiếp cận về TĐCN đó là: (i) TĐCN là quá trình phát minh, đổi mới và khuyếch tán công nghệ; (ii) TĐCN là kỹ thuật sản xuất mới (quy trình công nghiệp),“được sử dụng để nghiên cứu vai trò của công nghệ như một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (năng suất);”(iii) TĐCN cho phép sản xuất cùng một lượng đầu ra nhưng với số lượng đầu vào (vốn, LĐ, tài nguyên, .) ít hơn, hoặc TĐCN là khả năng để có thể sản xuất được nhiều đầu ra hơn“(sản lượng cao hơn) với cùng một lượng đầu vào.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) và Haile, G. (2013) cùng quan điểm với cách tiếp cận (iii) của Benoît Godin (2015) cho rằng TĐCN cho phép“tạo ra cùng một lượng đầu ra với ít đầu vào hơn.”Tương tự, Sandeep Kumar Kujur (2018), TĐCN tạo thành một loại kiến thức giúp con người có thể tạo ra khối 8 lượng đầu ra lớn hơn hoặc sản lượng vượt trội về chất lượng từ một lượng tài nguyên nhất định.
Theo Abbot Philip (2011), TĐCN bao gồm 2 loại: TĐCN trung lập Hicks và TĐCN tăng cường yếu tố. Weldon (1963) và Ngô Thắng Lợi (2013) cho rằng TĐCN được phân thành các loại: TĐCN trung tính, TĐCN tiết kiệm vốn, TĐCN tiết kiệm LĐ, TĐCN tăng cường vốn, TĐCN tăng cường LĐ. Trần Thọ Đạt, Lê Quang Cảnh (2015), TĐCN gồm 3 loại: Dạng trung tính kiểu Harrod (Harrod, 1932); Dạng trung tính kiểu Solow (Solow, 1969); Dạng trung tính kiểu Hick (Hick, 1942). Các nghiên cứu tiếp cận TĐCN trong thiết bị: Morrison và Rosenblum (1992) chỉ ra mối tương quan thuận giữa công nghệ cao của thiết bị và nhu cầu về LĐ phi sản xuất.
Tương tự, Berman, Bound và Griliches (1994) chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa đầu tư vào máy tính, R&D với tỷ trọng công nhân phi sản xuất của ngành; Siegel (1997) dẫn chứng mối liên hệ tích cực giữa chất lượng LĐ và máy tính. Greenwood và Yorukoglu (1997) chỉ ra việc tăng tốc đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Andera Conte và Marco Vivarelli (2011) tiếp cận TĐCN là sự thay đổi nhập khẩu công nghệ là một trong những yếu tố quyết định nhu cầu LĐ có kỹ năng ở các nước đang phát triển. Deming (2017) chỉ ra rằng LĐ sở hữu kỹ năng mềm, có khả năng chống lại mối đe dọa bị công nghệ và máy móc mới thay thế công việc trong TTLĐ của Mỹ.
Tiếp cận TĐCN ngoài thiết bị có các nghiên cứu điển hình như: Plutarchos Sakellaris and Daniel J. Wilson (2002) phân tích sự dịch chuyển hàm sản xuất do TĐCN ngoài thiết bị. Boyle và McCormack (2002) và Dixon và Lim (2020) chỉ ra rằng sự suy giảm tỷ trọng LĐ có thể một phần là do TĐCN tiết kiệm LĐ. Các nghiên cứu đã phân tích tác động của đổi mới (Bogliacino và Pianta, 2010; Cozzarin, 2016; Evangelista và Vezzani, 2012; Falk, 2015; Kwon và cộng sự, 2015; Pellegrino và cộng sự, 2019; Van Reenen, 1997), đều là những phân tích ở cấp độ DN ngoại trừ nghiên cứu ở cấp độ ngành của Bogliacino và Pianta (2010), và khám phá liệu có bất kỳ tác động nào của TĐCN thông qua đổi mới quy trình/sản phẩm đối với nhu cầu LĐ hay không.
Nguyễn Thị Lê Hoa (2021), chỉ ra TĐCN gồm 2 loại: TĐCN trong thiết bị và TĐCN ngoài thiết bị và tập trung nghiên cứu về TĐCN ngoài thiết bị. Nghiên cứu về chỉ tiêu và phương pháp đo lường thay đổi công nghệ Các nghiên cứu chỉ ra để đo lường TĐCN có thể sử dụng hai chỉ tiêu: Đầu tư mới (mua máy móc, thiết bị, công nghệ mới, đầu tư cho R&D) và Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP), mỗi chỉ tiêu có phương pháp đo lường là khác nhau. (i) Đối với chỉ tiêu đầu tư mới Greenwood và Yorukoglu (1997) đề xuất rằng nếu LĐ có kỹ năng có lợi thế so sánh trong phát triển công nghệ, thì việc tăng tốc vào đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Stephen Machin and John Van Reenen (1998),“phân tích ảnh hưởng của công nghệ đến sự thay đổi cơ cấu kỹ năng”ở 7 quốc gia OECD, với thước đo công nghệ là cường độ R&D.
Morrison Paul and Donald S. Siegel (2001), xem xét tác động của thương mại, công nghệ và gia công phần mềm đối với việc làm và CCLĐ, biến đại diện cho TĐCN là R&D. Andrea Conte và Marco Vivarelli (2011) nhận thấy rằng sự TĐCN do thay đổi nhập khẩu công nghệ là“một trong những yếu tố quyết định”nhu cầu tương đối của LĐ có kỹ năng ở“các nước đang phát triển.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) ước lượng tác động của TĐCN đến việc làm và tiền lương với biến đại diện cho công nghệ trong nước và nhập khẩu là:“Đầu tư vào máy móc thiết bị sản xuất trong nước và đầu tư để nhập khẩu máy móc và thiết bị. Mariacristina Piva, Marco Vivarelli (2017), sử dụng mô hình với biến phụ thuộc là việc làm, biến đo lường TĐCN là chi tiêu cho R&D.
Lê Phương Thảo (2021), đánh giá tác động của yếu tố công nghệ đến chuyển dịch CCLĐ ngành CNCBCT ở Việt Nam với các biến độc lập biểu thị yếu tố công nghệ bao gồm biến mua công nghệ; biến tổng sáng chế đo lường số lượng bằng sáng chế của DN. Để đo lường chỉ tiêu đầu tư mới, căn cứ vào lượng vốn mà các DN hay các ngành dùng để mua máy móc, thiết bị công nghệ mới hoặc đầu tư cho hoạt động R&D trong các năm, giai đoạn cụ thể. Chỉ tiêu này có ưu điểm là“lượng hóa được bằng tiền và có thể so sánh dễ dàng giữa các DN hay các ngành qua các năm hoặc các giai đoạn.” (ii) Đối với chỉ tiêu TFP Nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Anh (2011), từ phương trình sản xuất Cobb – Douglas“xây dựng mô hình để đánh giá tác động của tiền lương và các nhân tố cung tới NSLĐ của ngành công nghiệp chế biến Việt Nam trong giai đoạn 2005- 2008 trong đó trình độ công nghệ đo bằng TFP.”Kazunori Minetaki, Kiyohiko G. 10 Nishimura, Masato Shirai (2001), chỉ ra ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến nhu cầu LĐ và tiến bộ công nghệ trong sản xuất của Nhật Bản và tập trung vào tác động đến các ngành công nghiệp.
Sử dụng chỉ tiêu TFP và phương pháp đo lường dựa trên hàm chi phí để đo lường tỷ lệ thay đổi của tiến bộ công nghệ. Gladys López – Acevedo (2002), điều tra tác động của công nghệ đối với việc làm và tiền lương của các công nhân sản xuất có tay nghề cao ở Mexico bằng cách sử dụng dữ liệu mảng của các công ty từ năm 1992-1999. Sử dụng mô hình hiệu ứng cố định ước lượng ảnh hưởng của công nghệ đối với tiền lương với biến TFP được coi là thước đo của sự TĐCN được ước tính dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas. David Autor, Anna Salomons (2018) đã sử dụng tăng trưởng TFP, một thước đo toàn diện về tiến bộ công nghệ.
Bởi vì tất cả các biên độ của tiến bộ công nghệ cuối cùng đều dẫn đến sự gia tăng TFP - bằng cách tăng hiệu quả của vốn hoặc LĐ trong sản xuất hoặc bằng cách phân bổ lại các nhiệm vụ từ LĐ sang vốn hoặc ngược lại. Nghiên cứu này đã chỉ ra những thay đổi trong TFP cấp ngành ảnh hưởng như thế nào đến số lượng và giá trị gia tăng (GTGT), việc làm, thu nhập và tỷ trọng LĐ trong GTGT toàn nền kinh tế, để rút ra những suy luận về tăng cường LĐ ở cấp độ ngành và tác động thay thế LĐ của TĐCN. Gần đây nhất, K. Theodorakopoulos (2022), chỉ ra rằng để đo lường TĐCN có thể sử dụng chỉ số TFP đó là các biện pháp TĐCN được suy ra từ chức năng sản xuất và sử dụng đầu vào.
Các nghiên cứu cho thấy để đo lường TFP có hai phương pháp phổ biến là: phân tích bao dữ liệu (DEA) và phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA). Các nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA: Rao và cộng sự (2003), O’Donnell và cộng sự (2008) sử dụng mô hình DEA trong phân tích sự khác biệt năng suất nông nghiệp của 97 nước. Krishnasamy và Ahmed (2009) sử dụng DEA để phân tích tăng trưởng năng suất và chỉ ra khoảng cách giữa 26 nước OECD. Oh và Lee (2010) xây dựng chỉ số Malmquist TFP toàn cục nhằm đo lường xu hướng thay đổi của hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và năng suất trong giai đoạn 1970-2000 với mẫu gồm 58 nước được chia thành 5 khu vực.
Chen và Song (2008) sử dụng DEA ước lượng hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách trong công nghệ sản xuất giữa 4 khu vực bao gồm 31 tỉnh của Trung Quốc vào những năm 1990. Moreira và Bravo-Ureta (2010) đo lường hiệu quả kỹ thuật và tỷ lệ khoảng cách công nghệ của các trang trại bò sữa ở 3 quốc gia: Argentina, Chile và Uruguay.