Nghiên cứu tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở việt nam

Nghiên cứu chuyên sâu về tác động của thay đổi công nghệ tới chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam. Phân tích và đánh giá chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

217
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thay đổi công nghệ

1.2. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động

1.3. Tổng quan nghiên cứu về thay đổi công nghệ tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH

2.1. Cơ sở lý luận về thay đổi công nghệ

2.2. Khái niệm, phân loại và các thành phần của công nghệ

2.3. Khái niệm thay đổi công nghệ

2.4. Đo lường thay đổi công nghệ

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi công nghệ

2.6. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.7. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.8. Nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.9. Tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.10. Cơ chế tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.11. Mô hình phân tích tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.12. Đánh giá tác động của thay đổi đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành

2.13. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu của luận án

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.3. Dữ liệu thứ cấp

3.4. Dữ liệu sơ cấp

3.5. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.6. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.7. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.8. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.9. Phương pháp thống kê mô tả

3.10. Phương pháp phân tích hồi quy

3.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

4.1. Thực trạng thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.2. Giới thiệu ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.3. Đo lường thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.5. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.6. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động về quy mô

4.7. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động về chất lượng

4.8. Tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.9. Kết quả ước lượng tác động của thay đổi công nghệ đến cầu lao động ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.10. Phân tích tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.11. Đánh giá chung về tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

4.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: BỐI CẢNH, ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ GÓP PHẦN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

5.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra yêu cầu thay đổi công nghệ trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

5.2. Bối cảnh quốc tế

5.3. Bối cảnh trong nước

5.4. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam và dự báo tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành đến năm 2030

5.5. Định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam đến năm 2030

5.6. Dự báo tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam đến năm 2030

5.7. Giải pháp thúc đẩy thay đổi công nghệ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam

5.8. Hoàn thiện chính sách thúc đẩy thay đổi công nghệ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam

5.9. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.10. Nâng cao năng lực công nghệ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.11. Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng của người lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo

5.12. Đáp ứng nhu cầu thị trường về sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam trên nền tảng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

5.13. TIỂU KẾT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tác Động Thay Đổi Công Nghệ đến Lao Động CNCBCT

Ngành Công nghiệp Chế biến Chế tạo (CNCBCT) đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, ngành này đang đối mặt với những thách thức lớn từ thay đổi công nghệ (TĐCN), đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0. TĐCN không chỉ ảnh hưởng đến quy trình sản xuất mà còn tác động sâu sắc đến cơ cấu lao động (CCLĐ), đòi hỏi người lao động phải liên tục nâng cao kỹ năng và thích ứng với những yêu cầu mới. Nghiên cứu này nhằm làm rõ những tác động đó và đề xuất các giải pháp phù hợp để Việt Nam tận dụng tối đa lợi ích từ TĐCN trong ngành CNCBCT. Theo tác giả Phạm Thị Dự, "ngành CNCBCT đã có sự phát triển tích cực, đạt được thành tựu đáng ghi nhận và thể hiện vai trò dẫn đầu trong tăng trưởng của nền kinh tế", nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

1.1. Vai trò của CNCBCT và Thách Thức từ Thay Đổi Công Nghệ

Ngành CNCBCT đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, đóng góp vào GDP và thúc đẩy xuất khẩu. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của tự động hóarobot hóa đang đặt ra những thách thức lớn về việc làm. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI)Internet of Things (IoT) đang thay đổi cách thức sản xuất, đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng số và khả năng thích ứng cao. Nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, Việt Nam có thể đối mặt với tình trạng mất việc làm hàng loạt và gia tăng bất bình đẳng thu nhập. Các doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi số và đầu tư vào đào tạo lại nguồn nhân lực.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Tác Động đến Cơ Cấu Lao Động

Việc nghiên cứu tác động của tự động hóa đến lao động chế biến chế tạo là vô cùng cần thiết để có những chính sách phù hợp. Nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích các khía cạnh khác nhau của tác động của công nghệ in 3D đến ngành chế biến chế tạo, từ đó đưa ra những dự báo chính xác về xu hướng việc làm trong ngành chế biến chế tạo Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những giải pháp để hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi công nghệ 4.0 và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành CNCBCT.

II. Vấn Đề Mất Việc Làm Do Công Nghệ và Thiếu Kỹ Năng Mới

Một trong những vấn đề lớn nhất mà ngành CNCBCT đang đối mặt là nguy cơ mất việc làm do tự động hóa. Các công việc lặp đi lặp lại, đơn giản dễ bị thay thế bởi máy móc và robot. Đồng thời, sự thiếu hụt kỹ năng cần thiết của người lao động ngành chế biến chế tạo đang cản trở quá trình chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Theo Phạm Thị Dự, "Lao động trong ngành ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng, có xu hướng dịch chuyển khỏi những ngành sử dụng công nghệ thấp và chuyển tới ngành sử dụng công nghệ cao hơn. Tuy nhiên, trình độ CMKT của người LĐ còn hạn chế, các DN trong ngành còn gặp khó khăn về tài chính,… điều này làm giảm khả năng hấp thụ công nghệ của các DN ngành CNCBCT ở Việt Nam".

2.1. Nguy Cơ Mất Việc Làm do Tự Động Hóa và Robot Hóa

Sự phát triển của robot hóa đang đe dọa đến nhiều vị trí công việc trong ngành CNCBCT. Các công việc như lắp ráp, đóng gói và kiểm tra sản phẩm có thể được thực hiện bởi robot với độ chính xác và hiệu quả cao hơn. Để giảm thiểu mất việc làm, cần có những chính sách hỗ trợ người lao động chuyển đổi sang các công việc mới đòi hỏi kỹ năng cao hơn, sáng tạo hơn.

2.2. Thiếu Hụt Kỹ Năng Số và Khả Năng Thích Ứng với Công Nghệ

Người lao động cần được trang bị các kỹ năng số như lập trình, phân tích dữ liệu và vận hành máy móc tự động. Đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động ngành chế biến chế tạo là một yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trường đại học, cao đẳng nghề và doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với thực tế sản xuất.

2.3. Ảnh Hưởng của công nghệ 4.0 đến việc làm trong ngành chế tạo

Công nghệ 4.0 đang tái định hình thị trường lao động, với nhiều công việc truyền thống bị thay thế bởi tự động hóa và AI. Đồng thời, công nghệ này cũng tạo ra nhu cầu về các vị trí mới như chuyên gia phân tích dữ liệu, kỹ sư AI và chuyên viên an ninh mạng. Vì vậy, điều quan trọng là phải tập trung vào việc đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động để họ có thể thích ứng với những thay đổi này.

III. Giải Pháp Nâng Cao Kỹ Năng và Hỗ Trợ Chuyển Đổi Việc Làm

Để giải quyết những thách thức do TĐCN gây ra, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính phủ, doanh nghiệp và người lao động. Chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi công nghệ là rất quan trọng, bao gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo lại và tư vấn việc làm. Các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tạo cơ hội cho người lao động nâng cao kỹ năng và thích ứng với những công nghệ mới. Theo tác giả Phạm Thị Dự, "Trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến TĐCN, chuyển dịch CCLĐ trong ngành CNCBCT ở Việt Nam nhưng còn thiếu sự phân tích trực diện và đa chiều về tác động của TĐCN đến chuyển dịch CCLĐ trong ngành này".

3.1. Đầu Tư vào Đào Tạo và Nâng Cao Kỹ Năng cho Người Lao Động

Cần có những chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn, tập trung vào các kỹ năng số, kỹ năng mềm và kỹ năng chuyên môn. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng lao động. Cần khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo, tạo cơ hội cho người lao động được thực hành và học hỏi kinh nghiệm thực tế.

3.2. Hỗ Trợ Chuyển Đổi Việc Làm và Tạo Việc Làm Mới

Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả, giúp người lao động tìm kiếm việc làm phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm. Cần có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp tạo việc làm mới, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ. Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp cũng cần được đẩy mạnh để tạo cơ hội cho người lao động tự tạo việc làm.

3.3. Nâng cao năng lực công nghệ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Để theo kịp xu hướng phát triển của công nghệ, ngành công nghiệp chế biến chế tạo cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất. Đồng thời, cũng cần xây dựng hệ sinh thái công nghệ hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số.

IV. Chính Sách Thúc Đẩy Đổi Mới và Hỗ Trợ Doanh Nghiệp

Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi cho TĐCN và hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi này. Hoàn thiện chính sách thúc đẩy thay đổi công nghệ góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có những chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn và công nghệ mới. Phạm Thị Dự nhấn mạnh rằng "trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu hướng TĐCN trên thế giới sẽ có những tác động không nhỏ đến LĐ trong ngành".

4.1. Ưu Đãi Thuế và Hỗ Trợ Tài Chính cho Doanh Nghiệp

Cần có những chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới và đào tạo lại nguồn nhân lực. Cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư vào chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh.

4.2. Tạo Môi Trường Pháp Lý Thuận Lợi cho Đổi Mới Sáng Tạo

Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Cần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

4.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo

Việc phân bổ và sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Điều này đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ và đánh giá kỹ lưỡng các dự án đầu tư, đảm bảo rằng chúng mang lại giá trị gia tăng cao và đóng góp vào quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động.

V. Kết Luận Tương Lai Ngành CNCBCT và Cơ Hội cho Lao Động

Với những giải pháp phù hợp, ngành CNCBCT Việt Nam có thể tận dụng tối đa cơ hội từ TĐCN và tạo ra những cơ hội việc làm mới cho người lao động. Tương lai của ngành chế biến chế tạo Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp và người lao động. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và người lao động để xây dựng một ngành CNCBCT hiện đại, cạnh tranh và bền vững. Theo Phạm Thị Dự, "Việc tìm hiểu nắm bắt được xu hướng chuyển dịch CCLĐ trong ngành để có các giải pháp phù hợp về LLLĐ sẽ có giá trị đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách".

5.1. Cơ Hội Tạo Việc Làm Mới trong Lĩnh Vực Công Nghệ Cao

Sự phát triển của các ngành công nghiệp công nghệ cao như điện tử, ô tô và năng lượng tái tạo sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người lao động. Cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp này.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh và Hội Nhập Quốc Tế

Việc áp dụng công nghệ mới và nâng cao kỹ năng cho người lao động sẽ giúp ngành CNCBCT Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cần tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩy TĐCN và nâng cao năng lực sản xuất.

5.3. Tác động của Internet of Things IoT đến ngành chế biến chế tạo

IoT đang cách mạng hóa ngành công nghiệp chế biến chế tạo bằng cách cho phép thu thập và phân tích dữ liệu thời gian thực từ các thiết bị và quy trình sản xuất. Điều này giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động, giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, việc triển khai IoT cũng đòi hỏi phải có các chuyên gia có kỹ năng về phân tích dữ liệu, bảo mật và quản lý hệ thống.

VI. Ứng Dụng Nghiên Cứu Tác Động Tự Động Hóa Đến Cơ Cấu Lao Động

Nghiên cứu ứng dụng đánh giá trực tiếp tác động của tự động hóa đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động ngành chế biến chế tạo, tập trung vào việc phân tích số liệu thực tế và phỏng vấn các chuyên gia trong ngành. Mục tiêu là cung cấp cái nhìn chi tiết về cách các công nghệ mới đang định hình lại lực lượng lao động, từ đó giúp các doanh nghiệp và chính phủ đưa ra những quyết định phù hợp.

6.1. Phân Tích Định Lượng và Định Tính

Sử dụng các phương pháp thống kê để phân tích dữ liệu về việc sử dụng robot, máy móc tự động, và số lượng lao động trong các ngành chế biến chế tạo khác nhau. Đồng thời, phỏng vấn các chuyên gia và nhà quản lý để thu thập thông tin về các thay đổi trong quy trình sản xuất và yêu cầu kỹ năng của người lao động.

6.2. Đề Xuất Các Biện Pháp Thích Ứng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp giúp người lao động và doanh nghiệp thích ứng với tác động của robot hóa đến việc làm ngành chế biến chế tạo, bao gồm các chương trình đào tạo lại kỹ năng, hỗ trợ tài chính và chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới.

17/05/2025
Nghiên cứu tác động của thay đổi công nghệ đến chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến thay đổi công nghệ a. Nghiên cứu về cách tiếp cận và loại hình thay đổi công nghệ Nathan Rosenberg (1963) cho rằng TĐCN là một khái niệm có hai nghĩa: Nghĩa rộng, TĐCN là phổ biến phát minh hoặc công nghệ mới trong xã hội. TĐCN quan tâm đến tác động của công nghệ đối với cuộc sống của con người (thất nghiệp, văn hóa).

Nghĩa hẹp, TĐCN được phân biệt hoặc tách biệt khỏi những vấn đề văn hóa, xã hội và được hiểu là thay đổi phương pháp hoặc kỹ thuật sản xuất công nghiệp. TĐCN liên quan đến các công ty và kỹ thuật sản xuất như là công cụ để duy trì hoặc tăng năng suất. Nghiên cứu của Doms và cộng sự (1997), tiếp cận TĐCN theo nghĩa hẹp mà Nathan Rosenberg đã đề cập, dưới góc độ sử dụng các công nghệ tiên tiến (kỹ thuật sản xuất mới) sẽ dẫn đến việc tăng nhu cầu về LĐ có trình độ cao hơn. Tương tự, Đặng Đình Thắng (2015) cho rằng các nhà đầu tư và DN sẽ có xu hướng tìm kiếm và ứng dụng các công nghệ mới nhằm làm giảm nhu cầu sử dụng các đầu vào được định giá cao hơn trên thị trường.

Fisher cho rằng việc tăng cường sử dụng máy móc và phương pháp trồng trọt mới đã tạo điều kiện cho người nông dân có thể phát triển sản xuất, giúp giải phóng được một lực lượng lao động (LLLĐ) nông nghiệp ra khỏi khu vực nông thôn để chuyển sang làm việc ở môi trường hiện đại hơn (tham khảo qua Gillis, M. Nghiên cứu của Acemoglu (2002), chỉ ra các công nghệ mới đầu thế kỉ XIX thay thế kỹ năng bởi vì biên giới công nghệ khi đó chỉ cho phép phát minh ra các kỹ thuật thay thế kỹ năng. Nghiên cứu của Benoît Godin (2015) hệ thống ba cách tiếp cận về TĐCN đó là: (i) TĐCN là quá trình phát minh, đổi mới và khuyếch tán công nghệ; (ii) TĐCN là kỹ thuật sản xuất mới (quy trình công nghiệp),“được sử dụng để nghiên cứu vai trò của công nghệ như một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (năng suất);”(iii) TĐCN cho phép sản xuất cùng một lượng đầu ra nhưng với số lượng đầu vào (vốn, LĐ, tài nguyên, .) ít hơn, hoặc TĐCN là khả năng để có thể sản xuất được nhiều đầu ra hơn“(sản lượng cao hơn) với cùng một lượng đầu vào.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) và Haile, G. (2013) cùng quan điểm với cách tiếp cận (iii) của Benoît Godin (2015) cho rằng TĐCN cho phép“tạo ra cùng một lượng đầu ra với ít đầu vào hơn.”Tương tự, Sandeep Kumar Kujur (2018), TĐCN tạo thành một loại kiến thức giúp con người có thể tạo ra khối 8 lượng đầu ra lớn hơn hoặc sản lượng vượt trội về chất lượng từ một lượng tài nguyên nhất định.

Theo Abbot Philip (2011), TĐCN bao gồm 2 loại: TĐCN trung lập Hicks và TĐCN tăng cường yếu tố. Weldon (1963) và Ngô Thắng Lợi (2013) cho rằng TĐCN được phân thành các loại: TĐCN trung tính, TĐCN tiết kiệm vốn, TĐCN tiết kiệm LĐ, TĐCN tăng cường vốn, TĐCN tăng cường LĐ. Trần Thọ Đạt, Lê Quang Cảnh (2015), TĐCN gồm 3 loại: Dạng trung tính kiểu Harrod (Harrod, 1932); Dạng trung tính kiểu Solow (Solow, 1969); Dạng trung tính kiểu Hick (Hick, 1942). Các nghiên cứu tiếp cận TĐCN trong thiết bị: Morrison và Rosenblum (1992) chỉ ra mối tương quan thuận giữa công nghệ cao của thiết bị và nhu cầu về LĐ phi sản xuất.

Tương tự, Berman, Bound và Griliches (1994) chỉ ra mối liên hệ tích cực giữa đầu tư vào máy tính, R&D với tỷ trọng công nhân phi sản xuất của ngành; Siegel (1997) dẫn chứng mối liên hệ tích cực giữa chất lượng LĐ và máy tính. Greenwood và Yorukoglu (1997) chỉ ra việc tăng tốc đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Andera Conte và Marco Vivarelli (2011) tiếp cận TĐCN là sự thay đổi nhập khẩu công nghệ là một trong những yếu tố quyết định nhu cầu LĐ có kỹ năng ở các nước đang phát triển. Deming (2017) chỉ ra rằng LĐ sở hữu kỹ năng mềm, có khả năng chống lại mối đe dọa bị công nghệ và máy móc mới thay thế công việc trong TTLĐ của Mỹ.

Tiếp cận TĐCN ngoài thiết bị có các nghiên cứu điển hình như: Plutarchos Sakellaris and Daniel J. Wilson (2002) phân tích sự dịch chuyển hàm sản xuất do TĐCN ngoài thiết bị. Boyle và McCormack (2002) và Dixon và Lim (2020) chỉ ra rằng sự suy giảm tỷ trọng LĐ có thể một phần là do TĐCN tiết kiệm LĐ. Các nghiên cứu đã phân tích tác động của đổi mới (Bogliacino và Pianta, 2010; Cozzarin, 2016; Evangelista và Vezzani, 2012; Falk, 2015; Kwon và cộng sự, 2015; Pellegrino và cộng sự, 2019; Van Reenen, 1997), đều là những phân tích ở cấp độ DN ngoại trừ nghiên cứu ở cấp độ ngành của Bogliacino và Pianta (2010), và khám phá liệu có bất kỳ tác động nào của TĐCN thông qua đổi mới quy trình/sản phẩm đối với nhu cầu LĐ hay không.

Nguyễn Thị Lê Hoa (2021), chỉ ra TĐCN gồm 2 loại: TĐCN trong thiết bị và TĐCN ngoài thiết bị và tập trung nghiên cứu về TĐCN ngoài thiết bị. Nghiên cứu về chỉ tiêu và phương pháp đo lường thay đổi công nghệ Các nghiên cứu chỉ ra để đo lường TĐCN có thể sử dụng hai chỉ tiêu: Đầu tư mới (mua máy móc, thiết bị, công nghệ mới, đầu tư cho R&D) và Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP), mỗi chỉ tiêu có phương pháp đo lường là khác nhau. (i) Đối với chỉ tiêu đầu tư mới Greenwood và Yorukoglu (1997) đề xuất rằng nếu LĐ có kỹ năng có lợi thế so sánh trong phát triển công nghệ, thì việc tăng tốc vào đầu tư công nghệ sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng năng suất và tăng bất bình đẳng tiền lương. Stephen Machin and John Van Reenen (1998),“phân tích ảnh hưởng của công nghệ đến sự thay đổi cơ cấu kỹ năng”ở 7 quốc gia OECD, với thước đo công nghệ là cường độ R&D.

Morrison Paul and Donald S. Siegel (2001), xem xét tác động của thương mại, công nghệ và gia công phần mềm đối với việc làm và CCLĐ, biến đại diện cho TĐCN là R&D. Andrea Conte và Marco Vivarelli (2011) nhận thấy rằng sự TĐCN do thay đổi nhập khẩu công nghệ là“một trong những yếu tố quyết định”nhu cầu tương đối của LĐ có kỹ năng ở“các nước đang phát triển.”Elena Meschi, Erol Taymaz, Marco Vivarelli (2015) ước lượng tác động của TĐCN đến việc làm và tiền lương với biến đại diện cho công nghệ trong nước và nhập khẩu là:“Đầu tư vào máy móc thiết bị sản xuất trong nước và đầu tư để nhập khẩu máy móc và thiết bị. Mariacristina Piva, Marco Vivarelli (2017), sử dụng mô hình với biến phụ thuộc là việc làm, biến đo lường TĐCN là chi tiêu cho R&D.

Lê Phương Thảo (2021), đánh giá tác động của yếu tố công nghệ đến chuyển dịch CCLĐ ngành CNCBCT ở Việt Nam với các biến độc lập biểu thị yếu tố công nghệ bao gồm biến mua công nghệ; biến tổng sáng chế đo lường số lượng bằng sáng chế của DN. Để đo lường chỉ tiêu đầu tư mới, căn cứ vào lượng vốn mà các DN hay các ngành dùng để mua máy móc, thiết bị công nghệ mới hoặc đầu tư cho hoạt động R&D trong các năm, giai đoạn cụ thể. Chỉ tiêu này có ưu điểm là“lượng hóa được bằng tiền và có thể so sánh dễ dàng giữa các DN hay các ngành qua các năm hoặc các giai đoạn.” (ii) Đối với chỉ tiêu TFP Nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Anh (2011), từ phương trình sản xuất Cobb – Douglas“xây dựng mô hình để đánh giá tác động của tiền lương và các nhân tố cung tới NSLĐ của ngành công nghiệp chế biến Việt Nam trong giai đoạn 2005- 2008 trong đó trình độ công nghệ đo bằng TFP.”Kazunori Minetaki, Kiyohiko G. 10 Nishimura, Masato Shirai (2001), chỉ ra ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến nhu cầu LĐ và tiến bộ công nghệ trong sản xuất của Nhật Bản và tập trung vào tác động đến các ngành công nghiệp.

Sử dụng chỉ tiêu TFP và phương pháp đo lường dựa trên hàm chi phí để đo lường tỷ lệ thay đổi của tiến bộ công nghệ. Gladys López – Acevedo (2002), điều tra tác động của công nghệ đối với việc làm và tiền lương của các công nhân sản xuất có tay nghề cao ở Mexico bằng cách sử dụng dữ liệu mảng của các công ty từ năm 1992-1999. Sử dụng mô hình hiệu ứng cố định ước lượng ảnh hưởng của công nghệ đối với tiền lương với biến TFP được coi là thước đo của sự TĐCN được ước tính dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas. David Autor, Anna Salomons (2018) đã sử dụng tăng trưởng TFP, một thước đo toàn diện về tiến bộ công nghệ.

Bởi vì tất cả các biên độ của tiến bộ công nghệ cuối cùng đều dẫn đến sự gia tăng TFP - bằng cách tăng hiệu quả của vốn hoặc LĐ trong sản xuất hoặc bằng cách phân bổ lại các nhiệm vụ từ LĐ sang vốn hoặc ngược lại. Nghiên cứu này đã chỉ ra những thay đổi trong TFP cấp ngành ảnh hưởng như thế nào đến số lượng và giá trị gia tăng (GTGT), việc làm, thu nhập và tỷ trọng LĐ trong GTGT toàn nền kinh tế, để rút ra những suy luận về tăng cường LĐ ở cấp độ ngành và tác động thay thế LĐ của TĐCN. Gần đây nhất, K. Theodorakopoulos (2022), chỉ ra rằng để đo lường TĐCN có thể sử dụng chỉ số TFP đó là các biện pháp TĐCN được suy ra từ chức năng sản xuất và sử dụng đầu vào.

Các nghiên cứu cho thấy để đo lường TFP có hai phương pháp phổ biến là: phân tích bao dữ liệu (DEA) và phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA). Các nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA: Rao và cộng sự (2003), O’Donnell và cộng sự (2008) sử dụng mô hình DEA trong phân tích sự khác biệt năng suất nông nghiệp của 97 nước. Krishnasamy và Ahmed (2009) sử dụng DEA để phân tích tăng trưởng năng suất và chỉ ra khoảng cách giữa 26 nước OECD. Oh và Lee (2010) xây dựng chỉ số Malmquist TFP toàn cục nhằm đo lường xu hướng thay đổi của hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và năng suất trong giai đoạn 1970-2000 với mẫu gồm 58 nước được chia thành 5 khu vực.

Chen và Song (2008) sử dụng DEA ước lượng hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách trong công nghệ sản xuất giữa 4 khu vực bao gồm 31 tỉnh của Trung Quốc vào những năm 1990. Moreira và Bravo-Ureta (2010) đo lường hiệu quả kỹ thuật và tỷ lệ khoảng cách công nghệ của các trang trại bò sữa ở 3 quốc gia: Argentina, Chile và Uruguay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ