Chương 1: Giới thiệu khái quát về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Chương 2: Trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu, đưa ra các biến sử dụng trong nghiên cứu và các mối quan hệ có thể có. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu Chương 5: Rút ra kết luận và hạn chế của nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Sự bất thường dồn tích Các bất thường dồn tích lần đầu tiên được thực hiện bởi Sloan (1996) ở thị trường cổ phiếu Mỹ và cho thấy rằng các công ty có sự dồn tích cao sẽ có hiệu quả thu nhập và tỷ suất sinh lợi tương lai thấp, ngược lại các công ty có sự dồn tích thấp sẽ có hiệu quả thu nhập và tỷ suất sinh lợi tương lai cao. Các nghiên cứu tiếp theo cũng dựa trên số liệu của Mỹ đã cung cấp bằng chứng đảm bảo tính bền vững mạnh mẽ của nó và câu hỏi được đặt ra là liệu các tác động của dồn tích cũng xảy ra ở các nước khác hay không. Pincus và cộng sự (2007) xem xét các thị trường cổ phiếu ở 20 quốc gia: Úc, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Malaysia, Hà Lan, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thái Lan, Anh và Mỹ giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2001, để điều ra xem liệu các bất thường dồn tích (Sloan, 1996), được đặc trưng bởi vai trò của dồn tích làm cho giá cổ phiếu Mỹ quá cao có phải là một biểu hiện địa phương của hiện tượng toàn cầu. Kết quả cho thấy sự bất thường dồn tích có thể được tổng quát ở các thị trường vốn khác: Sự dồn tích có tính bền vững thấp ở 13 trong số 19 quốc gia (trừ Mỹ) và tạo ra tỷ suất sinh lợi cao bất thường ở 10 trong số 19 quốc gia này.
Bằng chứng liên quan đến việc khái quát về tác động dồn tích đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu cũng được Lafond (2005), Leippold và Lohre (2012) báo cáo. Lafond (2005) nghiên cứu những tác động của dồn tích đến tỷ suất sinh lợi ở các thị trường vốn lớn, thị trường vốn đang phát triển và thị trường vốn quốc tế bao gồm 17 quốc gia (Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Na Uy, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh và Mỹ) từ năm 1989 đến năm 2003. Kết quả phân tích ở các quốc gia cụ thể cho thấy 15 trong số 17 quốc gia tỷ suất sinh lợi bất thường của danh mục có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phòng ngừa có ý nghĩa thống kê, chỉ có Đan Mạch và Na Uy là hai quốc gia mà tỷ suất sinh lợi bất thường của danh mục có phòng ngừa không có ý nghĩa thống kê. Ông kết luận rằng sự bất thường dồn tích là một hiện tượng toàn cầu.
Leippold và Lohre (2012) xem xét dồn tích trong việc định giá sai dẫn đến tác động tỷ suất sinh lợi, bằng cách tiến hành thu thập một mẫu các công ty ở 26 thị trường chứng khoán giai đoạn từ tháng 5 năm 1994 đến tháng 4 năm 2008 và ông đã tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê của tỷ suất sinh lợi bất thường ở một số quốc gia. Nhận thức được rằng sự bất thường dồn tích không chỉ đơn thuần là một sự xuất hiện kỳ dị ở Mỹ, các nhà nghiên cứu đã cố gắng kiểm tra tác động của nó bằng cách tập trung nhiều hơn vào các thị trường chứng khoán lớn về vốn hóa, đặc biệt là ở Anh. Liên quan đến tác động của dồn tích đến hiệu quả của thu nhập trong tương lai, Pincus và cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng liên quan đến tính bền vững thấp hơn của các khoản dồn tích ở thị trường cổ phiếu Anh. Soares và Stark (2009) cho thấy rằng khi chi phí giao dịch được đưa vào, việc khai thác lợi nhuận của danh mục dồn tích có phòng ngừa không cần thiết.
Leippold và Lohre (2012) cho thấy rằng khi anpha điều chỉnh rủi ro của Carhart (1997) trong mô hình bốn nhân tố được xem xét, hiệu quả của các danh mục đầu tư dồn tích không đáng kể. Trong nghiên cứu tiếp theo, Soares và Stark (2011) cho thấy bằng chứng chống lại sự tồn tại của sự bất thường dồn tích sau khi kiểm soát rủi ro và các biến số khác (tỷ số giá trị sổ sách/giá trị thị trường, độ dốc thu nhập, tỷ số chi phí nghiên cứu và phát triển với giá trị thị trường, tỷ lệ tăng trưởng trong chi tiêu vốn, đòn bẩy và dòng tiền từ hoạt động). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mặc dù có nhiều điểm tương đồng giữa thị trường cổ phiếu của Mỹ và Anh chẳng hạn như truyền thống luật, tập trung quyền sở hữu thấp hơn…nhưng sự bất thường dồn tích lại độc lập với thị trường, nó phụ thuộc vào hệ thống kế toán và đặc biệt là bằng việc áp dụng các quy tắc đo lường theo chuẩn mực kế toán. Mặc dù GAAP của Anh và Mỹ về cơ bản không khác nhau, Weetman và cộng sự (1998) xác định một số khác biệt trong pháp luật và thực tế, dẫn họ đến kết luận có sự bất hòa ngày càng tăng giữa hai bộ tiêu chuẩn.
Tương tự như vậy, Weetman và Gray (1991) đánh giá mức độ khác biệt trong báo cáo lợi nhuận theo GAAP của Mỹ với báo cáo lợi nhuận theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung tại Anh, Thụy Điển và Hà Lan. Từ sự phân tích các công ty của Anh theo Mẫu 20 – F của Ủy Ban Chứng Khoán và Hối Đoái (SEC) thấy rằng GAAP của Anh có ý nghĩa thống kê ít bảo thủ hơn so với GAAP của Mỹ, GAAP của Thụy Điển và Hà Lan có xu hướng bảo thủ hơn GAAP của Mỹ. Kaserer và Klinger (2008) trong nghiên cứu mức độ nào của bất thường dồn tích có liên quan đến chuẩn mực kế toán khác nhau. Kết quả tìm thấy bằng chứng liên quan đến sự bất thường dồn tích ở các công ty Đức áp dụng báo cáo tài chính theo IFRS hoặc GAAP Mỹ, nhưng lại không có bằng chứng với các công ty sử dụng GAAP Đức.
Chan và cộng sự (2009) xem xét việc thay đổi chế độ kế toán, chất lượng thông tin kế toán có ảnh hưởng như thế nào đến sự bất thường dồn tích. Kết quả cho thấy có sự sụt giảm của bất thường dồn tích sau khi các công ty ở Anh áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính số 3 - FRS 3. Soares và Stak (2011) cho thấy nền giáo dục và đào tạo có thể khác nhau giữa các nhà đầu tư hoạt động tại các quốc gia và thị trường cổ phiếu khác nhau. Nền tảng khác nhau có thể làm phát sinh các hình thức khác nhau của các bất hợp lý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Hơn nữa, ngay cả khi các nghiên cứu tìm thấy sự tồn tại của bất thường dồn tích ở Anh, bằng chứng này không nhất thiết là sự bất thường dồn tích do các yếu tố tác động ở Anh giống như ở Mỹ. Bên cạnh đó, sự khác biệt liên quan đến giá trị thu nhập và giá trị sổ sách của các quốc gia có khả năng dẫn đến sự khác biệt của thị trường về thông tin kế toán. Điều này đã cung cấp thêm động lực để xem xét sự hiện diện của bất thường dồn tích ở bên ngoài nước Mỹ. Theo như Soares và Stark (2011) cho thấy nền giáo dục và đào tạo có thể khác nhau giữa các nhà đầu tư tại các quốc gia và thị trường chứng khoán khác nhau.
Nền tảng khác nhau có thể làm phát sinh các hình thức khác nhau của những điều không lý trí. Nếu như vậy, bước đầu sự bất thường dồn tích đã được coi là một hình thức không lý trí ở Mỹ, nhưng lại có vẻ như hợp lý để xem xét sự tồn tại của nó ở thị trường cổ phiếu Việt Nam. Có thể thấy rằng, mặc dù Mỹ và Anh có môi trường pháp lý tương tự nhau, nhưng một số khác biệt về thể chế có thể có ảnh hưởng đến sự tồn tại hoặc cường độ của sự bất thường dồn tích. Hofstede (2001) đã chỉ ra một số sự khác biệt trong tổ chức.
Các nghiên cứu khác đề cập đến một số sự khác biệt liên quan đến quản trị doanh nghiệp như các thành phần của Hội đồng quản trị (Monks và Minow, 2004), mức thưởng cho Giám đốc điều hành (Coffee, 2005) và sự bổ nhiệm Kiểm toán viên (Turnbull, 2005). Tương tự như vậy, các bằng chứng trước đây cho thấy mức độ khác nhau của việc thực hiện điều chỉnh thu nhập giữa Anh và Mỹ. Brown và Higgins (2001) cho thấy rằng các nhà quản lý Mỹ điều chỉnh thu nhập bất thường nhiều hơn đáng kể so với các nhà quản lý Anh. Wright và cộng sự (2006) tìm thấy các giám đốc Mỹ mua lại công ty làm cho thu nhập giảm nhiều hơn đáng kể so với các giám đốc ở Anh.
Những lập luận trên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét bất thường dồn tích ở Việt Nam và dẫn đến giả thuyết đầu tiên của nghiên cứu như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Giả thuyết 1 (H1). Sự bất thường dồn tích xảy ra ở thị trường cổ phiếu Việt Nam.2 Nguồn gốc của sự bất thường dồn tích Hầu hết trong các tài liệu nghiên cứu về tầm quan trọng của các yếu tố góp phần giải thích sự tồn tại của bất thường dồn tích. Các nghiên cứu này tập trung vào ba hướng chính dựa trên các yếu tố kế toán và tăng trưởng để giải thích sự bất thường. Với mục đích này, trong bài nghiên cứu sẽ sử dụng phân tích các khoản dồn tích của Richardson và cộng sự (2006) liên quan đến tăng trưởng và sự bóp méo kế toán.
Hướng đầu tiên của nghiên cứu với quan điểm cho rằng sự bất thường dồn tích có thể được giải thích bởi thu nhập cố định. Sloan (1996) đưa ra giả thuyết rằng các nhà đầu tư chất phác tập trung vào thu nhập bên dưới và không hiểu tính bền vững thấp các thành phần dồn tích của thu nhập. Do đó, các nhà đầu tư định giá cao với các công ty có dồn tích cao và định giá thấp với các công ty có dồn tích thấp. Ông phỏng đoán rằng tính bền vững thấp thành phần dồn tích của thu nhập là do tính chủ quan trong việc ước lượng các khoản dồn tích.