chương 1, khóa luận đã đưa ra các lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi (không gian và thời gian) của mẫu quan sát, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của khóa luận đối với khoa học cũng như thực tiễn và cuối cùng là kết cấu của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết về mức độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng 2.1 Khái niệm mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng Mức độ chấp nhận rủi ro được hiểu là cách ứng xử hay xử lý rủi ro của một tổ chức. Hay hiểu theo cách khác thì mức độ chấp nhận rủi ro là các loại rủi ro và mức độ của từng loại rủi ro mà ngân hàng sẵn sàng chấp nhận để đạt được mục tiêu kinh doanh và phù hợp với chiến lược đề ra.
Theo Sanders và Hambrick (2007), trong một tổ chức, mức độ chấp nhận rủi ro đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và có sức ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh cũng như sự phát triển ổn định của tổ chức trong dài hạn. Khả năng chấp nhận rủi ro trong hoạt động của NHTM bị chi phối chủ yếu thông qua việc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận. Để hoạt động kinh doanh đạt được hiệu quả, các ngân hàng cần phải cân bằng được giữa rủi ro và lợi nhuận, giữa khả năng quản trị và xu hướng tăng trưởng, ngoài ra một vấn đề khác được đặt ra cho các NHTM là phải phân tích được rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng và khả năng xảy ra rủi ro của chính ngân hàng. Mong muốn đạt được lợi nhuận cao, đồng nghĩa với việc đồng ý cho việc gia tăng rủi ro, điều này dễ khiến các NHTM rơi vào tình trạng phát triển kém bền vững dẫn đến việc hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng và đứng trước nguy cơ đổ vỡ.
Thông qua việc giải quyết khi rủi ro xảy ra của ngân hàng bằng cách thay đổi cơ chế của từng hoạt động sẽ góp phần đánh giá phù hợp về thực trạng của từng ngân hàng. Các thƣớc đo mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng Theo nghiên cứu của Roy (1952), ông đã cho rằng mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng có thể được đo lường bằng phương pháp kế toán thông qua hệ số Z- score của mỗi ngân hàng. Z-score là hệ số đo lường khoảng cách đến tình trạng mất khả năng thanh toán, được tính bằng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ lệ vốn 10 trên tài sản sau đó đem chia cho độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Sau này, Z-score được phát triển và sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu của một số nhóm tác giả nổi tiếng như Laeven và Levine (2009); Bhagat, Bolton và Lu (2015); Köster và Pelster (2017); Wang và Sui (2019), việc sử dụng Z-score như một chỉ số đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro bởi nó có tương quan âm với tần suất mà khả năng thanh toán của NH bị giảm sút, nghĩa là xác suất mà tại đó giá trị nợ của tổ chức cao hơn giá trị tài sản hiện có.
Giá trị của hệ số Z-score càng cao thể hiện mức độ chấp nhận rủi ro càng thấp, hàm ý ngân hàng đang nằm trong vùng an toàn với các hoạt động được diễn ra ổn định hơn từ đây kéo theo rủi ro phải gánh chịu giảm đi đáng kể. Ngược lại, khi hệ số Z-score có giá trị thấp, điều đó thể hiện ngân hàng chấp nhận với một mức độ rủi ro cao. Mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng ngoài ra còn được đo lường theo phương pháp thị trường bằng thước đo khoảng cách vỡ nợ - Merton’s Distance - to - Default (Merton DD). Merton DD được xây dựng bởi Merton (1974) kết hợp các yếu tố về rủi ro liên quan đến các yếu tố kế toán như tài chính và tài sản, về giá trị của tài sản phải được xác định dựa trên giá thị trường của nó bởi như vậy mới dự báo chính xác khả năng vỡ nợ trước sự biến động tình hình kinh tế của một DN.
Nếu khoảng cách vỡ nợ được xác định càng lớn thì khả năng vỡ nợ dự báo của DN càng thấp, mức độ chấp nhận rủi ro của DN càng thấp và ngược lại. Điểm vỡ nợ cũng là một trong những yếu tố quan trọng cần được xác định bởi đây là vị trí mà tại đó mệnh giá của nợ cao hơn thị giá của tổng tài sản. Để tìm được điểm vỡ nợ lại là một quá trình khá phức tạp, bởi nó phụ thuộc vào kinh nghiệm của người nghiên cứu cũng như kết quả của các nghiên cứu thống kê trước đây về những trường hợp vỡ nợ thường gặp. Tuy nhiên, việc vận dụng mô hình của Merton trong thực tế lại vướng rất nhiều bất cập do các yếu tố cấu thành mô hình phức tạp và các khoản nợ thường khác nhau về thời gian đáo hạn, lãi suất… bên cạnh đó, sự thị trường trong thực tế là không hoàn hảo như giả định do vậy việc phản ánh thông tin chưa được sử dụng một cách đầy đủ.
Mô hình Merton DD đã được sử dụng nhiều trong một số 11 công trình nghiên cứu của Duffie, Saita và Wang (2007); Bharath và Shumway (2008); Bhagat, Bolton và Lu (2015). Việc tổng quan về mô hình Merton DD chỉ góp phần củng cố cho hệ thống lý thuyết của bài luận, thế nhưng trong nghiên cứu này, để chọn ra một yếu tố đo lường mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM Việt Nam, nghiên cứu sử dụng hệ số Z-score thay vì Merton DD bời vì Z-score có những điểm phù hợp với các đặc điểm của các NHTM Việt Nam hơn so với Merton DD. Trong khi Merton DD là phương pháp dựa trên thị trường, sẽ tạo nên một số khó khăn nhất định trong việc thu thập dữ liệu và tính toán thì Z-score là phương pháp dựa trên kế toán nên có thể dễ dàng được tính toán từ các dữ liệu thu nhập trên các báo cáo tài chính của các ngân hàng, cụ thể là các chỉ tiêu tổng tài sản, tổng nợ, lợi nhuận sau thuế,… 2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng Để có thể đạt được mục tiêu họa động kinh doanh hiệu quả nhất, các NHTM cần phải cân bằng được giữa lợi nhuận và rủi ro, giữa khả năng sinh lời và năng lực quản trị.
Bên cạnh đó, các NHTM cần phải phân tích được rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng cũng như khả năng xảy ra rủi ro của chính NH nhằm đánh giá chính xác mức độ chấp nhận rủi ro phù hợp với mục tiêu của các NHTM. Thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận khi xảy ra rủi ro của NH sẽ góp phần quan trọng trong việc ra quyết định và có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh cũng như sự phát triển ổn định của tổ chức trong dài hạn. Dưới đây là một số nhân tố mà khóa luận ghi nhận rằng có ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính là chỉ tiêu tài chính thể hiện mức độ sử dụng vốn vay từ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính với mục đích gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Đòn bẩy tài chính tiềm ẩn rất nhiều rủi ro nhưng được các NH sử dụng khá nhiều. Khi tỷ lệ đòn bẩy ở mức cao sẽ dẫn đến xu hướng tăng rủi ro bởi vì nhu cầu phải mang lại lợi nhuận cao hơn với mức vốn thấp hơn cho ngân hàng. Nghiên 12 cứu của Odit, Mohun và Hemant (2008) và Ghosh (2014) đều cho rằng ngân hàng tăng tỷ lệ đòn bẩy thì rủi ro tín dụng sẽ gia tăng vì khi tỷ lệ đòn bẩy cao, các ngân hàng thường có xu hướng chấp nhận rủi ro nên cho vay dễ dàng hơn, tham gia đầu tư vốn vào những dự án có tiềm ẩn rủi ro cao hơn. Quy mô Trong một số nghiên cứu liên quan đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, quy mô hay quy mô hoạt động của DN là thuật ngữ chỉ về mức độ bao quát của toàn bộ các yếu tố liên quan đến DN, trong đó có hai yếu tố đặc trưng là vốn và lao động.
Như đã biết, ngân hàng là một định chế tài chính trung gian mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp, vì thế quy mô hoạt động của nó cũng sẽ được phản ánh qua các chỉ số chính như: độ lớn, các nhân tố liên quan đến kế toán và các vấn đề về dịch vụ như sự đa dạng sản phẩm dịch vụ tài chính cho các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế. Các nghiên cứu của Anderson (1967) và Gupta (1969) nhận thấy quy mô có tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của DN. Khả năng chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp nhỏ nhìn chung là thấp hơn khá nhiều so với các doanh nghiệp lớn. Davidson và Dutia (1991) cũng đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn có xu hướng chấp nhận rủi ro thấp cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.
Khả năng sinh lời Nhiều nghiên cứu đã sử dụng chỉ số ROA như một đại lượng đặc trưng cho khả năng sinh lời của ngân hàng. Theo nghiên cứu của Vives (2010); Hellmann và cộng sự (2000) đều cho rằng lợi nhuận cung cấp một nền tảng vốn để ứng phó với những biến động xảy ra bất ngờ trong khuôn khổ tài chính hoặc dự kiến về việc đưa ra quyết định đầu tư của định chế tài chính vào nền kinh tế. Do vậy, mức độ chấp nhận rủi ro của NHTM và chỉ số ROA được xác định là có mối quan hệ ngược chiều với nhau. Theo Zhu (2016) tỷ số ROA được tính bằng cách lấy thu nhập ròng chia cho tổng tài sản.
Hệ số an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo về mức độ an toàn trong sử dụng vốn, dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có (vốn chủ sở hữu) và tổng tài sản có trọng số rủi ro của các ngân hàng ((Krim (1996); Hsu và cộng sự (2007) Baizas và Solek (2010); Hafez và El-Ansary (2015)). Theo Al-Sabbagh (2004), an toàn vốn được định nghĩa là thước đo độ nhạy cảm rủi ro của ngân hàng. Do đó, các cơ quan quản lý sử dụng tỷ lệ an toàn vốn làm thước đo quan trọng để đánh giá “tính an toàn và lành mạnh” của các NH và tổ chức lưu ký, vì vốn được coi là phần đệm hấp thụ các khoản lỗ.