Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò huyết mạch trong việc chu chuyển dòng vốn của nền kinh tế. Đi đôi với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều loại hình rủi ro hoạt động và tín dụng. Trong xu hướng tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam thông qua các hoạt động sáp nhập, hợp nhất nhằm gia tăng năng lực tài chính và sức cạnh tranh, vấn đề đặt ra là liệu việc gia tăng quy mô hoạt động có làm gia tăng hay suy giảm mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Trên bình diện quốc tế, các nghiên cứu thực nghiệm vẫn tồn tại sự bất đồng quan điểm: một nhóm tác giả (Saunders và cộng sự, 1990; Boyd và cộng sự, 2006; Berger và Bouwman, 2013; Bhagat, Bolton và Lu, 2015) ghi nhận quy mô tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro; ngược lại, nhóm tác giả khác (De Nicolo, 2000; Stiroh, 2006; Houston và cộng sự, 2010; Beltratti và Stulz, 2012) lại chỉ ra mối tương quan âm. Tại Việt Nam, các công trình tiếp cận vấn đề này trong giai đoạn có sự đan xen của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 và đại dịch COVID-19 (2019 – 2021) vẫn còn tương đối hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận của tác giả Thái Thị Cẩm Vân tập trung kiểm định tác động của quy mô tài sản tới mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động của nhân tố quy mô hoạt động đến khả năng chấp nhận rủi ro của các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Kiểm định mối quan hệ tương quan giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro của NHTMCP tại Việt Nam.
    2. Đo lường mức độ tác động của nhân tố quy mô hoạt động đến các yếu tố cấu thành khả năng chấp nhận rủi ro của NHTMCP tại Việt Nam.
    3. Hàm ý một vài chính sách về quy mô hoạt động nhằm nâng cao mức độ kiểm soát và chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Quy mô hoạt động có mối tương quan đến mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTMCP tại Việt Nam hay không?
  2. Mức độ tác động của quy mô hoạt động đến khả năng chấp nhận rủi ro của các NHTMCP tại Việt Nam là như thế nào?
  3. Những chính sách nào phù hợp để cải thiện và gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTMCP tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quy mô hoạt động đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát 27 NHTMCP tại Việt Nam có báo cáo tài chính minh bạch, đầy đủ và được kiểm toán bởi các đơn vị kiểm toán uy tín. Khóa luận loại bỏ 4 ngân hàng, gồm 2 ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt (Ngân hàng TMCP Đông Á - EAB, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - SCB) và 2 ngân hàng không thu thập đủ số liệu (Ngân hàng TMCP Bảo Việt - BAOVIETBANK, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - PVcomBank). Mẫu không xét các ngân hàng 100% vốn nhà nước (như Agribank), nhưng có bao gồm các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối trên 50% cổ phần (Vietcombank, VietinBank, BIDV).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2012 – 2022. Riêng đối với chuỗi số liệu tính toán độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lời trên tài sản ($\sigma(ROA)$) theo phương pháp cuốn chiếu 4 năm liền trước, dữ liệu kế toán được thu thập lùi về từ năm 2008 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết tài chính và quản trị doanh nghiệp:

  • Thước đo mức độ chấp nhận rủi ro: Tác giả hệ thống hai hướng tiếp cận gồm mô hình khoảng cách vỡ nợ theo thị trường Merton Distance-to-Default (Merton, 1974) và chỉ số kế toán Z-score (Roy, 1952). Do đặc thù thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều ngân hàng chưa niêm yết tập trung, khóa luận lựa chọn chỉ số Z-score làm thước đo chính. Chỉ số Z-score đo lường khoảng cách đến ngưỡng mất khả năng thanh toán, tính theo công thức: $$Z\text{-score} = \frac{ROA + CAR}{\sigma(ROA)}$$ Trong đó, $ROA$ là lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản; $CAR$ là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; $\sigma(ROA)$ là độ lệch chuẩn của $ROA$ trong giai đoạn cuốn chiếu 4 năm liền trước. Giá trị Z-score tỷ lệ nghịch với rủi ro vỡ nợ: Z-score càng cao hàm ý ngân hàng hoạt động càng an toàn, mức độ chấp nhận rủi ro càng thấp. Biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy được xác định là $ln(Z\text{-score})$.
  • Lý thuyết "Quá lớn để sụp đổ" (Too Big To Fail - TBTF): Các tổ chức tín dụng có quy mô tài sản lớn thường kỳ vọng nhận được sự can thiệp và hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ khi đối mặt nguy cơ đổ vỡ nhằm ngăn chặn hiệu ứng Domino đối với toàn bộ nền kinh tế (French và cộng sự, 2010). Sự bảo hộ ngầm này làm phát sinh rủi ro đạo đức, thúc đẩy các nhà quản trị ngân hàng gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro để theo đuổi lợi nhuận.
  • Lý thuyết chi phí đại diện (Jensen và Meckling, 1976) và Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Akerlof, 1970; Botosan, 1997): Giải thích động cơ của ban điều hành và Hội đồng quản trị thông qua tỷ lệ sở hữu cổ phần của Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) theo quy định tại Khoản 1 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020.
  • Khung pháp lý và quy chuẩn an toàn: Thông tư 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu bảng (panel data) cân bằng được tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán và báo cáo thường niên của 27 NHTMCP trong 11 năm (2012 – 2022), đối soát qua cổng thông tin tài chính Vietstock và Cafef.
  • Mô hình hồi quy thực nghiệm: $$Z_{it} = \beta_0 + \beta_1 Size_{it} + \beta_2 Pre_{it} + \beta_3 Axp_{it} + \beta_4 Emp_{it} + \beta_5 Sor_{it} + \beta_6 Loe_{it} + \beta_7 Covi_{it} + \varepsilon_{it}$$
  • Kỹ thuật ước lượng: Khóa luận sử dụng phần mềm Stata 14.0 để thực hiện ước lượng mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model - FEM) nhằm kiểm soát các đặc trưng riêng không quan sát được của từng ngân hàng; sử dụng ước lượng sai số chuẩn vững (Robust Check) để điều chỉnh hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan; áp dụng mô hình bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (2SLS) nhằm xử lý khuyết tật nội sinh giữa biến quy mô và rủi ro. Ngoài ra, tác giả hồi quy riêng từng nhân tố cấu thành Z-score ($CAR$, $ROA$, $\sigma(ROA)$) theo các biến độc lập để bóc tách cơ chế tác động.

Bảng tổng hợp hệ thống biến số trong mô hình nghiên cứu:

Ký hiệu biến Tên biến Phương pháp đo lường Kỳ vọng dấu Nghiên cứu tham chiếu tiêu biểu
Biến phụ thuộc
$Z_{it}$ Mức độ chấp nhận rủi ro Logarit tự nhiên của hệ số Z-score ($ln(Z\text{-score})$) Roy (1952); Bhagat, Bolton và Lu (2015)
$ROA$ Khả năng sinh lời Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản Houston và cộng sự (2010)
$CAR$ Tỷ lệ an toàn vốn (Tổng tài sản - Tổng nợ phải trả) / Tổng tài sản Bhagat, Bolton và Lu (2015)
$\sigma(ROA)$ Biến động sinh lời Độ lệch chuẩn cuốn chiếu 4 năm liền trước của ROA Houston và cộng sự (2010)
Biến độc lập
$Size$ Quy mô hoạt động Logarit tự nhiên của tổng tài sản ($ln(Size)$) - ($\beta_1 < 0$) Berger và Bouwman (2013); Bhagat và cộng sự (2015)
Biến kiểm soát
$Pre$ Sở hữu của Chủ tịch HĐQT Tỷ lệ % cổ phần nắm giữ của Chủ tịch HĐQT cuối năm - Bhagat và Bolton (2008); Luật Doanh nghiệp 2020
$Axp$ Số năm hoạt động Năm tài chính quan sát trừ đi năm thành lập + Bhagat, Bolton và Lu (2015)
$Emp$ Số lượng nhân viên Số lượng lao động ghi nhận cuối mỗi năm tài chính + Vallascas và Keasey (2012); Thảo Thương (2022)
$Sor$ Sở hữu nhà nước Biến giả: 1 nếu vốn nhà nước > 50% (Big4); 0 nếu khác - Shleifer và Vishny (1997); Kick và cộng sự (2009)
$Loe$ Tình trạng niêm yết Biến giả: 1 nếu niêm yết HOSE/HNX; 0 nếu UpCOM/chưa niêm yết - Ninh Ngọc Thảo Thương (2022)
$Covi$ Đại dịch COVID-19 Biến giả: 1 cho các năm 2019 – 2021; 0 cho các năm khác - Lee, Lye và Lee (2022); Eichenbaum và cộng sự (2020)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cấu trúc ngân hàng thương mại Việt Nam sau khủng hoảng tài chính 2008 và giai đoạn đại dịch COVID-19. Nội dung chương trình bày mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ bài viết. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên mẫu 27 NHTMCP trong chuỗi thời gian 2012 – 2022. Tác giả nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung luận cứ về mối quan hệ giữa quy mô và rủi ro tại một thị trường mới nổi, đồng thời chỉ ra ý nghĩa thực tiễn hỗ trợ các nhà điều hành ngân hàng xây dựng chính sách tăng trưởng tài sản gắn liền với hạn mức rủi ro an toàn.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm

Chương 2 trình bày chi tiết khung lý thuyết và tổng quan các bằng chứng thực nghiệm quốc tế và trong nước:

  • Khái quát hóa hai phương pháp đo lường rủi ro: phương pháp thị trường qua mô hình khoảng cách vỡ nợ Merton DD và phương pháp kế toán qua hệ số Z-score.
  • Phân tích các nhân tố cốt lõi tác động đến rủi ro ngân hàng, bao gồm: đòn bẩy tài chính, quy mô tài sản, tỷ suất sinh lời ROA, tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN và cú sốc ngoại sinh từ dịch bệnh COVID-19.
  • Luận giải cơ chế tác động của quy mô đến mức độ chấp nhận rủi ro dựa trên hai trụ cột: lý thuyết TBTF và lý thuyết chi phí đại diện gắn liền với cấu trúc sở hữu của ban quản trị.
  • Tổng hợp các công trình thực nghiệm trước đây qua bảng đối chiếu so sánh:
Tác giả Phạm vi và mẫu nghiên cứu Thước đo rủi ro Thước đo quy mô Kết luận tương quan
De Nicolo (2000) 826 ngân hàng, 21 nước công nghiệp (1988–1998) Z-score, ROA, E/A Logarit tổng tài sản Dương (+)
Stiroh (2006) 400 ngân hàng Mỹ (1997–2004) Độ lệch chuẩn lợi nhuận cổ phiếu tuần Tổng tài sản Âm (-)
Boyd và cộng sự (2006) Hơn 2.500 quan sát ngân hàng Mỹ (2003) Z-score, E/A Logarit tổng tài sản Dương (+)
Houston và cộng sự (2010) 2.400 ngân hàng tại 69 quốc gia (2000–2007) Z-score, ROA, E/A Logarit tổng tài sản Dương (+)
Beltratti và Stulz (2012) 164 ngân hàng lớn toàn cầu (2007–2008) Z-score Logarit tổng tài sản Âm (-)
Berger và Bouwman (2013) Các ngân hàng Mỹ (1984–2010) Z-score, tài sản rủi ro theo Basel I Logarit tổng tài sản Dương (+)
Bhagat, Bolton và Lu (2015) 702 tổ chức tài chính Mỹ (2002–2012) Z-score, độ lệch chuẩn giá cổ phiếu Logarit tổng tài sản, Doanh thu Dương (+)
Võ Phương Nhi (2017) 23 NHTM Việt Nam (2009–2015) Tài sản điều chỉnh rủi ro / Tổng tài sản Logarit tổng tài sản Không tương quan
Lê Ngọc Lưu Quang và Lê Hoàng Anh (2019) 28 NHTM Việt Nam (2009–2017) Z-score Logarit tổng tài sản Dương (+)
Ninh Ngọc Thảo Thương (2022) 34 NHTM Việt Nam (2009–2021) Logarit Z-score Logarit tổng tài sản Dương (+)

Từ việc phân tích các nghiên cứu trên, chương 2 chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các nghiên cứu quốc tế chủ yếu dùng dữ liệu cũ trước năm 2012, trong khi các nghiên cứu trong nước chưa cập nhật dữ liệu của năm 2022 (năm phục hồi sau đại dịch) và chưa kiểm soát triệt để hiện tượng nội sinh bằng các mô hình đa dạng.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập mô hình kinh tế lượng dựa trên kế thừa nghiên cứu của Bhagat, Bolton và Lu (2015). Tác giả làm rõ cấu trúc biến phụ thuộc $ln(Z\text{-score})$, biến độc lập quy mô $ln(Size)$ và 6 biến kiểm soát ($Pre$, $Axp$, $Emp$, $Sor$, $Loe$, $Covi$). Tác giả đặt ra hai giả thuyết đối lập:

  • Giả thuyết $H_0$: Quy mô hoạt động có mối tương quan dương với mức độ chấp nhận rủi ro của NHTM, biểu hiện qua hệ số hồi quy $\beta_1 < 0$ (do giá trị Z-score nghịch biến với mức độ chấp nhận rủi ro).
  • Giả thuyết $H_1$: Tồn tại mối tương quan âm hoặc không có mối quan hệ giữa quy mô hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro ($\beta_1 \ge 0$). Chương này cũng thuyết minh chi tiết quy trình chọn mẫu 27 NHTMCP từ tổng số 35 NHTM tại Việt Nam (loại SCB, Đông Á, BAOVIETBANK, PVcomBank), kỹ thuật thu thập dữ liệu thứ cấp và các bước kiểm định kinh tế lượng qua FEM, Robust Check và 2SLS trên phần mềm Stata 14.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 phản ánh toàn bộ kết quả phân tích thống kê và ước lượng thực nghiệm từ mẫu dữ liệu bảng 27 NHTMCP giai đoạn 2012 – 2022:

  • Thống kê mô tả và ma trận tương quan: Cung cấp các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất của các biến trong mô hình; ma trận tương quan Pearson sơ bộ xác định không có cặp biến nào có hệ số tương quan vượt quá ngưỡng gây đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Kết quả hồi quy mô hình FEM và Robust Check: Xác nhận biến quy mô ($Size$) có tác động ngược chiều có ý nghĩa thống kê tới $ln(Z\text{-score})$. Vì Z-score đại diện cho khoảng cách an toàn, hệ số âm chứng minh khi quy mô tài sản tăng lên, Z-score suy giảm, đồng nghĩa mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng tăng lên. Kết quả này ủng hộ giả thuyết $H_0$ và lý thuyết TBTF.
  • Kết quả hồi quy mô hình 2SLS: Kiểm soát hiện tượng nội sinh và khẳng định tính vững của mối quan hệ tương quan thuận giữa quy mô tài sản và mức chấp nhận rủi ro.
  • Phân tích các nhân tố cấu thành Z-score: Khi hồi quy riêng các thành phần, tác giả phát hiện quy mô tài sản tác động mạnh mẽ nhất làm suy giảm tỷ lệ an toàn vốn ($CAR$), phản ánh việc gia tăng rủi ro chủ yếu xuất phát từ việc lạm dụng đòn bẩy tài chính.
  • Tác động của các biến kiểm soát: Khóa luận phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa giữa tỷ lệ sở hữu của Chủ tịch HĐQT ($Pre$), số lượng nhân viên ($Emp$) và số năm thành lập ($Axp$) với mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương tổng kết đúc kết các phát hiện nghiên cứu chính từ mô hình kinh tế lượng, đối chiếu với các mục tiêu nghiên cứu ban đầu. Dựa trên bằng chứng thực nghiệm, chương 5 đưa ra hệ thống khuyến nghị chính sách:

  • Hàm ý về quản trị quy mô: Cảnh báo việc mở rộng tổng tài sản bằng đòn bẩy tài chính quá mức; đề xuất các NHTM phải xây dựng hạn mức tăng trưởng tài sản song hành với bộ đệm vốn tự có an toàn.
  • Hàm ý về quản trị nội bộ: Tối ưu hóa vai trò giám sát của Hội đồng quản trị thông qua cơ chế sở hữu cổ phần phù hợp, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự và năng lực quản trị rủi ro tại các ngân hàng có thâm niên hoạt động khác nhau.
  • Chỉ ra các hạn chế của đề tài về quy mô mẫu, dữ liệu kế toán và định hướng mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Nghiên cứu thực nghiệm trên 27 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022 chứng minh quy mô hoạt động có tương quan dương với khả năng chấp nhận rủi ro (hệ số quy mô mang dấu âm khi hồi quy với biến phụ thuộc $ln(Z\text{-score})$ trong các mô hình Fixed Effect, Robust Check và 2SLS). Khi quy mô ngân hàng càng lớn, ngân hàng có xu hướng gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong kinh doanh.
  • Phân tích chuyên sâu các nhân tố cấu thành hệ số Z-score cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTMCP gia tăng chủ yếu bắt nguồn từ sự thay đổi của đòn bẩy tài chính (sự suy giảm của tỷ số $CAR$).
  • Khóa luận xác nhận mối quan hệ tương quan có ý nghĩa thống kê giữa các biến đặc trưng quản trị (tỷ lệ sở hữu cổ phần của Chủ tịch HĐQT, quy mô nhân viên, số năm hoạt động của ngân hàng) với mức độ chấp nhận rủi ro.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Đối với các nhà quản trị và điều hành ngân hàng: Cần kiểm soát chặt chẽ tốc độ mở rộng tài sản, tránh lạm dụng đòn bẩy tài chính để tăng trưởng nóng; thiết lập hạn mức tín dụng và danh mục đầu tư an toàn tương xứng với nguồn vốn chủ sở hữu.
  • Đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước): Cần giám sát chặt chẽ các ngân hàng thương mại có quy mô lớn theo tinh thần kiểm soát rủi ro hệ thống của học thuyết "Quá lớn để sụp đổ"; hoàn thiện khung giám sát an toàn vi mô và vĩ mô căn cứ theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN.
  • Hoàn thiện cơ chế quản trị: Gắn kết trách nhiệm và lợi ích của Chủ tịch HĐQT với sự phát triển an toàn dài hạn của ngân hàng thông qua tỷ lệ sở hữu hợp lý nhằm hạn chế chi phí đại diện; phân bổ và nâng cao năng lực chuyên môn của lực lượng nhân viên trong công tác thẩm định rủi ro.

Đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro tại hệ thống NHTMCP Việt Nam trong chuỗi dữ liệu cập nhật 2012 – 2022, bao quát giai đoạn biến động do đại dịch COVID-19 và năm phục hồi 2022.
  • Ứng dụng đồng thời các phương pháp ước lượng FEM, Robust Check và đặc biệt là mô hình 2SLS để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh, đảm bảo độ tin cậy khoa học của các hệ số ước lượng.
  • Đi sâu bóc tách tác động của quy mô tới từng cấu phần của Z-score ($ROA$, $CAR$, $\sigma(ROA)$), làm rõ bản chất kênh truyền dẫn rủi ro qua tỷ lệ đòn bẩy tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Mẫu nghiên cứu mới giới hạn ở 27 NHTMCP do phải loại bỏ 4 ngân hàng (SCB, Đông Á, BAOVIETBANK, PVcomBank) vì lý do kiểm soát đặc biệt hoặc thiếu hụt số liệu công bố minh bạch; chưa bao quát các loại hình tổ chức tín dụng khác như ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hay công ty tài chính.
  • Nguồn số liệu nghiên cứu phụ thuộc hoàn toàn vào các báo cáo tài chính kế toán theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), nơi mà việc sử dụng các thủ thuật kế toán có thể ảnh hưởng nhất định đến tính chính xác tuyệt đối của các chỉ số tài chính so với thực tế.
  • Khóa luận mới sử dụng thước đo rủi ro theo phương pháp kế toán (Z-score) mà chưa thể áp dụng kết hợp thước đo thị trường Merton DD do nhiều ngân hàng chưa niêm yết tập trung trên sàn HOSE/HNX.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi và quy mô mẫu quan sát sang toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam khi điều kiện minh bạch hóa thông tin được cải thiện.
  • Kéo dài chuỗi thời gian quan sát để kiểm định tính ổn định của các hệ số hồi quy trong các chu kỳ kinh tế tiếp theo.
  • Ứng dụng thêm các mô hình định lượng hiện đại khác (như GMM hệ thống hai bước) và bổ sung các chỉ số thị trường khi tỷ lệ niêm yết của các NHTM đạt mức bao phủ toàn diện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính doanh nghiệp hoặc Kinh tế lượng ứng dụng đang thực hiện các đề tài về rủi ro ngân hàng, cấu trúc vốn và quản trị tổ chức tín dụng.
  • Cán bộ quản trị rủi ro, chuyên viên phân tích tài chính tại các ngân hàng thương mại và các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước trong việc tham chiếu bằng chứng thực nghiệm về tăng trưởng quy mô gắn với an toàn hệ thống.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: quy trình tính toán hệ số Z-score cuốn chiếu 4 năm; quy trình hồi quy dữ liệu bảng kết hợp FEM, Robust Check và 2SLS trên phần mềm Stata 14.0; bảng tổng hợp lược khảo tài liệu trong và ngoài nước về lý thuyết TBTF và rủi ro ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khóa luận sử dụng thước đo nào để đại diện cho mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng? Tác giả sử dụng hệ số Z-score theo phương pháp kế toán của Roy (1952), cụ thể là lấy logarit tự nhiên $ln(Z\text{-score})$. Chỉ số này được tính bằng tổng của tỷ suất sinh lời trên tài sản ($ROA$) và tỷ lệ vốn trên tài sản ($CAR$) chia cho độ lệch chuẩn của $ROA$ tính cuốn chiếu 4 năm liền trước ($\sigma(ROA)$).

  2. Vì sao tác giả chọn chỉ số Z-score thay vì thước đo khoảng cách vỡ nợ Merton DD? Thước đo Merton DD dựa trên dữ liệu giá thị trường cổ phiếu, đòi hỏi ngân hàng phải niêm yết giao dịch liên tục và thông tin thị trường hoàn hảo. Tại Việt Nam, nhiều NHTMCP chưa niêm yết trên HOSE/HNX (trong mẫu có 8/27 ngân hàng giao dịch trên sàn UpCOM hoặc chưa niêm yết), do đó chỉ số Z-score dựa trên dữ liệu kế toán từ báo cáo tài chính kiểm toán có tính khả thi và phù hợp hơn với thực tiễn.

  3. Có bao nhiêu ngân hàng được đưa vào mẫu nghiên cứu và tiêu chí lựa chọn là gì? Khóa luận chọn 27 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022. Tiêu chí chọn mẫu là các ngân hàng có báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán công khai, minh bạch. Tác giả loại bỏ 4 NHTMCP gồm 2 ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt (SCB, DongABank) và 2 ngân hàng thiếu số liệu (BAOVIETBANK, PVcomBank), đồng thời không khảo sát nhóm ngân hàng chính sách, liên doanh và 100% vốn nước ngoài.

  4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra kênh cấu phần nào của Z-score chịu tác động mạnh nhất từ quy mô hoạt động? Khi phân tích hồi quy riêng các nhân tố cấu thành Z-score, kết quả cho thấy mức độ chấp nhận rủi ro gia tăng chủ yếu xuất phát từ sự biến động của đòn bẩy tài chính, thể hiện qua việc quy mô tài sản gia tăng làm suy giảm tỷ số vốn trên tổng tài sản ($CAR$).

  5. Biến kiểm soát COVID-19 được đưa vào mô hình như thế nào và có ý nghĩa gì? Biến COVID-19 ($Covi$) là một biến giả, nhận giá trị bằng 1 cho giai đoạn diễn ra đại dịch phức tạp từ năm 2019 đến năm 2021, và nhận giá trị bằng 0 cho các năm còn lại. Biến này giúp mô hình kiểm soát tác động ngoại sinh của đại dịch đối với sự gia tăng rủi ro hoạt động và tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTMCP.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thái Thị Cẩm Vân đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc về mối tương quan thuận chiều giữa quy mô tài sản và mức độ chấp nhận rủi ro của 27 NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Kết quả phân tích kinh tế lượng bằng các mô hình FEM, Robust Check và 2SLS khẳng định tính phù hợp của lý thuyết "Quá lớn để sụp đổ" và chỉ ra rằng sự gia tăng mức chấp nhận rủi ro gắn liền với việc lạm dụng đòn bẩy tài chính. Công trình mang lại giá trị học thuật và thực tiễn rõ nét, đóng góp những gợi ý xác đáng cho công tác điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước cũng như chiến lược quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại.