CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng (RRTD), tác giả đưa ra một số khái niệm về rủi ro trong ngân hàng, rủi ro trong ngân hàng là gì và bao gồm những loại rủi ro nào? * Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh thì rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực và có thể xuất hiện một cách bất ngờ mọi lúc, mọi nơi. Tùy theo điều kiện khác nhau mà có cách nhìn nhận về rủi ro không giống nhau: Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái trung hòa: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể mang đến cho con người những tổn thất mất mát, nguy hiểm, nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. * Phân loại rủi ro trong NHTM Với những tiêu chí và mục đích khác nhau, ta có nhiều phương pháp phân loại rủi ro. Trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, chỉ đi sâu vào phân tích các loại rủi ro chủ yếu như sau: Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng gồm: - RRTD: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện thực tế thông qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. - Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
11 - Rủi ro tỷ giá hối đoái: là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. - Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng. * Khái niệm rủi ro tín dụng RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thoả thuận. RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng.
Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì “RRTD là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn”.Fitch (dẫn theo Hồ Diệu, 2002) lại định nghĩa RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Tại Việt Nam theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài cho rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các quan điểm tác giả cho rằng: RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Đây là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nên mọi hoạt động tín dụng và RRTD đều ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như hiệu quả của ngân hàng.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa RRTD đạt hiệu quả, việc nhận biết các đặc điểm của RRTD rất cần thiết và hữu ích.
RRTD có những đặc điểm cơ bản sau (Nguyễn Trọng Tài, 2012): - RRTD mang tính tất yếu nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là đương nhiên trong hoạt động ngân hàng. Các NHTM thường đánh giá cơ hội kinh doanh trên mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận nhằm tìm ra cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với rủi ro mà mình phải chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động và phát triển tốt nếu như mức rủi ro là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng nguồn tài chính và năng lực tín dụng của mình.
- RRTD mang tính gián tiếp. Nó xảy ra sau khi NHTM giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên NHTM thường ở thế bị động. NHTM thường biết thông tin sau hoặc thông tin không chính xác về khách hàng và do đó thường có những ứng phó không kịp thời.
- RRTD mang tính đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng và phức tạp trong nguyên nhân gây ra RRTD cũng như diễn biến, hậu quả khi nó xảy ra.3 Phân loại rủi ro tín dụng Trần Huy Hoàng (2011) cho biết căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia làm 2 loại: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch là một hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. 13 - Rủi ro danh mục là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý trong danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay vốn quá nhiều đối với một số khách hàng. Cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay rủi ro cao.4 Các hình thức của rủi ro tín dụng RRTD có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và gốc (Trần Huy Hoàng, 2011).
Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thủ được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn. Tùy trường hợp mà ngân hàng hạch toán vào các khoản mục theo dõi, thực hiện các bút toán khác nhau. Rủi ro tín dụng Không thu Không thu Không thu đủ Không thu đủ được lãi đúng được vốn đúng lãi vốn (Mất vốn) hạn hạn 1. Nợ không Lãi treo phát Nợ quá hạn đóng băng có khả năng sinh phát sinh thu hồi 2.1 Các hình thức của rủi ro tín dụng (Trần Huy Hoàng, 2011) Trường hợp 1: Không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ RRTD ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục lãi treo phát sinh.
Nếu lãi đến kỳ trả mà khách hàng không đến trả 14 vượt quá 90 ngày thì ngân hàng cần thực hiện bút toán xóa lãi, đồng thời theo dõi tài khoản ngoại bảng đối với lãi vay quá hạn chưa thu được (tài khoản 941 hoặc 942). Trường hợp 2: Không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh. Tuy nhiên khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mất mát hoàn toàn vì có thể vì lý do nào đó, khách hàng chậm trả nợ gốc và được ngân hàng cho phép điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, gia hạn trả nợ gốc. Trường hợp này, ngân hàng chỉ tiến hành chuyển nhóm nợ có rủi ro thấp sang nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo quy định hiện hành về phân loại nợ.
Trường hợp 3: Không thu đủ lãi, ngân hàng sẽ có những khoản mục lãi treo đóng băng. Ngân hàng tiến hành xóa lãi trên tài khoản 941 hoặc 942, chuyển sang tài khoản nợ lãi bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi – tài khoản 9712, ngoại trừ các trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi cho khách hàng khi khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay dẫn đến bị khó khăn về tài chính. Trường hợp 4: Không thu đủ vốn (mất vốn), khoản nợ quá hạn mà ngân hàng không thể thu hồi được (do DN phá sản chẳng hạn) thì lúc này coi như ngân hàng gặp RRTD ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi. Ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản đảm bảo để thu nợ và xử lý RRTD.
Đối với khách hàng vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xóa nợ thì ngân hàng có thể xem xét xóa nợ cho khách hàng, ngân hàng sẽ sử dụng nguồn tài trợ cho RRTD để xử lý xóa nợ gốc theo thứ tự ưu tiên: dự phòng cụ thể, dự phòng chung, quỹ dự phòng tài chính hoặc hạch toán vào chi phí khác, đồng thời theo dõi số nợ gốc đã xóa trên tài khoản 9711.