Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Hoàn cảnh nghiên cứu Toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật cùng với vai trò ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Cùng với đó, hội nhập kinh tế quốc tế được khẳng định là một xu thế tất yếu lớn của thế giới, con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế. Sự lựa chọn tất yếu này được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cho các nước như giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế; tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới để đề ra chính sách phát triển phù hợp.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn mang lại cho người tiêu dùng tại các nước sự lựa chọn đa dạng hơn về hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, do có khí hậu lạnh nên Phần Lan không trồng được bông. Tuy nhiên, Phần Lan vẫn có thể bán giấy và các sản phẩm khác từ gỗ (là mặt hàng sẵn có tại Phần Lan) sang Hoa Kỳ và dùng số tiền mua được để mua bông từ nước này. Do vậy mà người dân Phần Lan vẫn có bông để sử dụng.
Tuy Hoa Kỳ là nước giàu tài nguyên rừng nhưng những sản phẩm gỗ của Phần Lan có thể thích hợp với người tiêu dùng Hoa Kỳ về mặt giá cả, hoặc có thể giải quyết sự thiếu hụt trên thị trường Hoa Kỳ. Việc nhập khẩu những mặt hàng này từ Phần Lan còn giúp cho các công nhân Hoa Kỳ có thể chuyển sang làm việc ở những ngành khác với mức lương cao hơn. Hay trường hợp Ecuador xuất khẩu hoa hồng sang Hoa Kỳ vì có lợi thế về điều kiện khí hậu và chi phí nhân công rẻ hơn nhiều so với việc trồng loại hoa này tại 123doc -2- Hoa Kỳ (tại bang Florida). Còn Hoa Kỳ lại có lợi thế hơn Ecuador về sản xuất và xuất khẩu máy vi tính.
Thương mại tự do cũng mang lại lợi ích cho những người xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ vào Ecuador. Khi mà nền kinh tế của Ecuador ngày càng mạnh lên nhờ xuất khẩu được hoa hồng, người dân nước này có thể mua được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Các nhà kinh tế lập luận rằng về dài hạn hội nhập kinh tế quốc tế hay thương mại quốc tế sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đem lại những lợi ích, ngược lại, nó cũng đặt các nước trước nhiều bất lợi và thách thức, trong đó có thể kể đến là làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế; làm tăng sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại nhập so với hàng hoá trong nước, có thể làm các doanh nghiệp trong nước phải phá sản nếu không có một chiến lược kinh doanh hợp lý, các ngành công nghiệp non trẻ qua đó cũng không thể trưởng thành … Rõ ràng, hội nhập đồng thời mang lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước, tuy nhiên, không phải cứ hội nhập là đương nhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích hay gánh mọi bất lợi như đã nêu trên.
Các lợi ích và bất lợi nhìn chung ở dạng tiềm năng và đối với mỗi nước có sự khác biệt do sự khác nhau về điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển… Việc tận dụng các lợi ích đến đâu và hạn chế các bất lợi, thách thức thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi nước, thể hiện ở chiến lược/chính sách hội nhập và việc tổ chức thực hiện. Thực tế, nhiều nước đã tận dụng rất tốt các cơ hội và lợi ích của hội nhập để đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong nhiều năm liên tục, nhanh chóng vươn lên hàng các nước công nghiệp mới và tạo dựng được vị thế quốc tế đáng nể, đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình hội nhập, điển hình là trường hợp của Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc, Malaixia, Mêhicô, Braxin… Cũng có một số nước tuy vẫn gặt hái được nhiều lợi ích từ hội nhập, song xử lý chưa tốt mặt trái của quá trình này nên phải đối mặt với 123doc -3- nhiều khó khăn, thách thức lớn, có thể kể tới trường hợp Thái Lan, Phi-líp-pin, Inđônêxia, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… Trong hoàn cảnh đó, các quốc gia phải làm gì, phải quản lý nền kinh tế như thế nào để tận dụng được các lợi ích từ thương mại quốc tế luôn là câu hỏi đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình mở cửa và phát triển kinh tế. Giải quyết tốt câu hỏi trên có thể sẽ là bước đà cho cú nhảy vọt về kinh tế, nhưng ngược lại nếu không thận trọng sẽ làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, phụ thuộc. Từ thực tế đó, đề tài thực hiện nhằm mục đích cung cấp bằng chứng thực tiễn về sự tác động của việc quản lý kinh tế đến mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế, qua đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách nhằm tăng hiệu quả quản lý kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua thương mại quốc tế.2 Vấn đề nghiên cứu và mục tiêu của đề tài: Các lý thuyết thương mại cổ điển đã chứng tỏ được những lợi ích đem lại cho các quốc gia trong thương mại quốc tế như tăng trưởng cao hơn, người tiêu dùng có thể tiếp cận được với sản phẩm có giá rẻ hơn.
Trong giao thương, các quốc gia sẽ dồn nguồn lực của mình để sản xuất các sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu qua các quốc gia khác. Đồng thời, các quốc gia cũng thu hẹp sản xuất đối với những mặt hàng có khả năng cạnh tranh yếu hơn và nhập khẩu các sản phẩm này từ quốc gia khác với giá rẻ hơn. Qua đó, người tiêu dùng và nhà sản xuất đều có được nhiều lợi ích hơn so với khi đóng cửa thương mại, và theo đó tăng trưởng cũng cao hơn. Trong các mô hình của lý thuyết thương mại quốc tế, các tác giả đã bỏ qua vai trò quản lý nền kinh tế của Nhà nước - các nguồn lực đều được giả định là di chuyển một cách tự do trong nền kinh tế.
Nhưng trên thực tế, mọi hoạt động kinh tế trong một quốc gia đều chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua các quy định và hoạt động dịch chuyển các nguồn lực trong sản xuất từ nơi ít có lợi thế sang nơi có nhiều lợi thế cũng không là ngoại lệ. Vấn đề đặt ra là dưới sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định hành chính trong kinh doanh , liệu thương mại 123doc -4- quốc tế có còn đóng góp tích cực cho tăng trưởng của quốc gia nữa hay không? Giải quyết vấn đề này không chỉ làm rõ được vai trò của quản lý kinh tế của Nhà nước trong mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng, mà còn lý giải được tác động không đồng đều của thương mại quốc tế đến các nền kinh tế trên thế giới. Để tập trung giải quyết vấn đề này, bài viết đề ra các mục tiêu chính là: 1. Phân tích tác động của thương mại quốc tế tới tăng trưởng kinh tế thông qua các lý thuyết thương mại quốc tế; 2.
Phân tích ảnh hưởng của các quy định quản lý kinh tế đến tác động nêu trên.3 Phạm vi nghiên cứu Các lý thuyết thương mại quốc tế thể hiện tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế qua ba kênh chính là lan truyền công nghệ, lợi thế kinh tế theo quy mô và chuyên môn hoá. Tuy nhiên trong giới hạn của đề tài, bài viết chỉ tập trung phân tích tác động của thương mại quốc tế trên kênh chuyên môn hoá, dựa trên các mô hình kinh tế về thương mại quốc tế của Adam Smith (1776), David Ricardo (1817). Trên cơ sở đó, chỉ có yếu tố lao động được đề cập đến, các yếu tố sản xuất khác như vốn, công nghệ… không được xét đến trong quá trình phân tích. Tác động của các quy định hành chính trong kinh doanh của Nhà nước được phân tích dựa trên lý thuyết về lựa chọn công cộng của Tullock (1967), Stigler (1971) và Pelzman (1967) và lý thuyết về lợi ích công cộng của Pigou (1938).
Nghiên cứu được thực hiện trên 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm các nước đã, đang và kém phát triển. Các dữ liệu về các chỉ số kinh tế vĩ mô được thu thập theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, các chỉ số về quy định trong các quốc gia được thu thập trên báo cáo của dự án Doing Business (Ngân hàng Thế giới) về môi trường kinh doanh.4 Các giả thuyết nghiên cứu (1) Tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế là tác động có lợi; (2) Các quy định hành chính trong kinh doanh của Nhà nước có ảnh hưởng đến tác động có lợi nêu trên.5 Kết cấu của đề tài Sau chương giới thiệu thì kết cấu còn lại của đề tài được viết theo trình tự sau: Chương 2 trình bày về sự tác động của thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình của các lý thuyết thương mại và sự ảnh hưởng của các quy định hành chính trong kinh doanh đến sự tác động này. Chương 3 trình bày về mô hình kinh tế lượng thể hiện những tác động được đề cập ở chương 2 và kết quả của mô hình nghiên cứu. Chương 4 mô tả thực trạng thương mại quốc tế và các quy định hành chính trong kinh doanh ở Việt Nam.