chương 1 giới thiệu trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, nội dung, phương pháp và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trước đây. Chương 3 mô tả mẫu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng để phân tích. Chương 4 thảo luận về những kết quả nghiên cứu từ những bằng chứng thu thập được về các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.
Chương 5 đưa ra kết luận của bài nghiên cứu và những gợi ý cho các hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khái niệm về quan hệ ngân hàng Quan hệ ngân hàng đã được định nghĩa bởi từ điển “Tài chính ngân hàng” (Law và Smullen, 2005) của Oxford như sau: “Quan hệ ngân hàng là sự thiết lập mối quan hệ dài hạn giữa một ngân hàng và các khách hàng của nó. Lợi ích chính của mối quan hệ này là nó tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển những kiến thức sâu sắc về kinh doanh của khách hàng. Điều này giúp cho nó có khả năng đưa ra được các quyết định đúng đắn liên quan tới các khoản vay của khách hàng.
Các khách hàng cũng kỳ vọng đạt được những lợi ích do được ngân hàng tăng cường hỗ trợ trong suốt thời kỳ doanh nghiệp gặp khó khăn”. Nghiên cứu thực nghiệm của Ongena và Smith (2000) đưa ra một cách hiểu về thuật ngữ trên như là “sự kết nối giữa ngân hàng và khách hàng mà vượt qua cả các giới hạn giao dịch tài chính đơn thuần”. Các tác giả muốn chỉ ra rằng ngân hàng không chỉ tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính đơn thuần cho doanh nghiệp mà còn khai thác các yếu tố thông tin từ doanh nghiệp để phục vụ các hoạt động mở rộng kinh doanh sau này để tăng lợi nhuận (Boot, 1999). Kết hợp giữa định nghĩa của từ điển Oxford (Law và Smullen, 2005) và của Ongena và Smith (2000), chúng ta có định nghĩa về “Quan hệ ngân hàng” như sau: “Quan hệ ngân hàng là sự kết nối giữa ngân hàng và khách hàng trong mối quan hệ cung cấp tín dụng.
Sự kết nối này vượt qua cả các giao dịch tín dụng đơn thuần và tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển những kiến thức sâu sắc về kinh doanh của khách hàng đồng thời khai thác các yếu tố thông tin của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khách hàng để đưa ra các quyết định cho vay đúng đắn. Các khách hàng cũng kỳ vọng đạt được những lợi ích do được ngân hàng tăng cường hỗ trợ trong suốt thời kỳ doanh nghiệp gặp khó khăn”. Quan hệ ngân hàng được chia làm hai loại quan hệ: quan hệ tiền gửi và quan hệ cho vay (quan hệ tín dụng). Trong đó, mối quan hệ tiền gửi là mối quan hệ giữa khách hàng gửi tiền và ngân hàng nhận tiền gửi, ngược lại quan hệ cho vay là mối quan hệ giữa ngân hàng cho vay và khách hàng nhận tiền vay.
Luận văn này chỉ đi sâu nghiên cứu mối quan hệ cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp.2 Các nhân tố biểu hiện quan hệ ngân hàng Mối quan hệ giữa ngân hàng với doanh nghiệp được biểu hiện thông qua bốn nhân tố chính: độ dài của mối quan hệ, lượng tín dụng cho vay, lãi suất cho vay và số lượng mối quan hệ. Độ dài của mối quan hệ Độ dài của mối quan hệ nói lên thời gian mà ngân hàng và doanh nghiệp quan hệ với nhau thông qua quá trình tài trợ tín dụng. Độ dài của mối quan hệ giúp cho ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin hơn, còn doanh nghiệp tạo lập được uy tín hơn thông qua hàng loạt các giao dịch. Việc duy trì các mối quan hệ lâu dài giữa doanh nghiệp và ngân hàng sẽ mang lại lợi ích cho cả phía doanh nghiệp và ngân hàng.
Ðối với ngân hàng, sự duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng sẽ giúp ngân hàng có nhiều thông tin về khách hàng. Ðiều này sẽ làm giảm rủi ro trong hoạt động tín dụng do thông tin bất đối xứng (Diamond, 1984, Berger và Udell, 1995). Do mức độ rủi ro thấp nên ngân hàng có thể cho vay những khách hàng quen thuộc với lãi suất thấp hơn và đòi hỏi thế chấp ít hơn. Thậm chí, các ngân hàng có thể cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vay mà không cần lợi nhuận trong những lúc khó khăn với niềm tin họ có thể được bù đắp trong suốt thời gian quan hệ lâu dài.
Bên cạnh đó, các ngân hàng thu được những thông tin riêng tư của các doanh nghiệp trong suốt thời gian của mối quan hệ nên có thể trói buộc doanh nghiệp với mình và khai thác lợi nhuận độc quyền dựa trên những thông tin này (Petersen và Rajan, 1995; Von Thadden, 1998). Ðối với doanh nghiệp, những mối quan hệ bền vững với ngân hàng được xem là tài sản quý giá vì chúng có thể làm giảm chi phí tiếp cận tín dụng và tăng sự sẵn có của các nguồn tín dụng (Boot và Thaker, 1994, Von Thadden, 1995, Petersen và Rajan, 1994). Bằng uy tín trả nợ được tạo lập từ những lần vay trước đây, các khách hàng quen thuộc có thể được hưởng những ưu đãi trong các hợp đồng tín dụng hay họ được biết đến là những người đi vay đáng tin cậy nên dễ được các ngân hàng chấp nhận hơn khi có nhu cầu vay vốn. Mối quan hệ càng dài lâu càng giúp cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đối với nguồn vốn vay của ngân hàng (Sharpe, 1990; Petersen và Rajan, 1994) và làm giảm các khoản thế chấp (Berger và Udell, 1995).
Một số nghiên cứu đưa ra các kết luận trái ngược nhau về ảnh hưởng của thời hạn quan hệ đối với khoản lãi suất phải trả. Petersen và Rajan (1994) không tìm thấy mối quan hệ giữa độ dài mối quan hệ và khoản lãi suất phải trả, trong khi đó Berger và Udell (1995) lại thấy rằng lãi suất phải trả giảm dần trong độ dài của mối quan hệ. Lượng tín dụng cho vay Lượng tín dụng được vay là một biểu hiện thành công nhất về mối quan hệ của doanh nghiệp với ngân hàng. Doanh nghiệp càng dễ dàng tiếp cận tín dụng và càng nhận được nhiều những khoản tài trợ tín dụng thì càng chứng tỏ ngân hàng đã có đủ các thông tin cần thiết và tạo dựng được uy tín với ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Hiraki và cộng sự (2003) cho rằng lượng tín dụng biểu hiện sự gắn bó giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Mối quan hệ càng tốt thì doanh nghiệp ngày càng kỳ vọng tín dụng sẽ tăng lên hoặc dễ dàng tiếp cận hơn và điều này dẫn tới thực tế là các doanh nghiệp sẽ nới lỏng các hạn chế về tính thanh khoản của dòng tiền, tăng cơ hội đầu tư và giảm khó khăn về tài chính của doanh nghiệp, từ đó dẫn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên (Robert và Elston, 1996; Shen và Wang, 2005). Lãi suất cho vay Trong quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các doanh nghiệp phải trả cho người cho vay là các NHTM. Đối với các doanh nghiệp, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh.
Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt động kinh tế. Lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.
Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế. Lãi suất cho vay nhận được là kết quả của mối quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã đưa ra các kết luận khác nhau về khoản lãi suất cho vay mà doanh nghiệp phải trả. Diamond (1984, 1991), Fama (1985), Rajan (1992), Holmstrom và Tirole (1997), Bolton và Freixas (2000) cho rằng do các ngân hàng tích lũy được các thông tin nội bộ của doanh nghiệp trong quá trình tài trợ tín dụng nên các các ngân hàng có thể làm giảm chi phí vay mượn thông qua tiến trình giám sát của mình.
Xét về độ dài quan hệ, các doanh nghiệp kỳ vọng là lãi suất khoản cho vay sẽ giảm trong suốt thời kỳ quan hệ và điều này đã được Peterson và Rajan (1994) chứng minh. Tuy nhiên, Greenbaum và các cộng sự (1989) lại thấy rằng các ngân hàng sẽ tạo điều kiện ưu đãi trong thời gian đầu nhưng sau đó sẽ tính cao lên trong các giai đoạn sau. Xét về khía cạnh tạo dựng mối quan hệ với một hoặc nhiều ngân hàng thì Pertersen và Rajan (1995) thấy rằng những doanh nghiệp nhỏ và trẻ có xu hướng ít ràng buộc về mặt tín dụng và nhận được lãi suất vay mượn tốt hơn khi họ vay từ một ngân hàng. Cùng với quan điểm này, Ongena và Smith (2000) đã chỉ ra rằng những doanh nghiệp nhỏ có xu hướng vay mượn từ ít ngân hàng hơn các doanh nghiệp lớn và họ đạt được chi phí vay mượn thấp hơn là khi đi vay mượn với nhiều ngân hàng.
Số lượng mối quan hệ Số lượng mối quan hệ với ngân hàng đã được đề cập trong hầu hết các nghiên cứu. Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp khác nhau mà các doanh nghiệp sẽ quyết định tạo lập mối quan hệ với một ngân hàng hay nhiều ngân hàng.