Mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn. Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị công ty và hành vi quản trị lợi nhuận. 4 Trình bày tổng quan và phân tích đánh giá các nghiên cứu trƣớc đã thực hiện có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, từ đó, tổng hợp những kết quả đạt đƣợc từ nghiên cứu trƣớc và nhận xét các nghiên cứu trƣớc nhằm rút ra khe hỏng cần nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về nhân tố quản trị công ty ảnh hƣởng đến hành vi quản trị lợi nhuận kế toán tại các ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Trình bày các vấn đề lý thuyết về quản trị công ty, quản trị lợi nhuận và mối quan hệ giữa quản trị công ty và quản trị lợi nhuận kế toán.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Trong chƣơng này, tác giả trình bày phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận văn, quy trình nghiên cứu chung của luận văn, các bƣớc thực hiện cụ thể trong quy trình nghiên cứu, nguồn dữ liệu, cách thức chọn mẫu và phƣơng pháp thu thập dữ liệu, đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến của luận văn. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Trong chƣơng 4, tác giả căn cứ vào kết quả đạt đƣợc từ nghiên cứu định lƣợng để đƣa ra bàn luận. Chƣơng 5: Bàn luận kết quả nghiên cứu và kết luận Chƣơng 5, tác giả trình bày kết luận từ kết quả nghiên cứu, qua đó, gợi ý kiến nghị đối với các nhà quản trị, các nhà đầu tƣ và ngân hàng nhà nƣớc; đồng thời, nêu các hạn chế mà luận văn chƣa thực hiện đƣợc và gợi ý các hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ẢNH HƢỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nƣớc ngoài về quản trị công ty ảnh hƣởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Trên thế giới, việc xem xét sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến hành vi QTLN đã và đang nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu sử dụng mẫu là các doanh nghiệp phi tài chính.
Vì vậy, đối với chƣơng này tác giả sẽ trình bày một số mô hình đo lƣờng hành vi quản trị lợi nhuận đƣợc vận dụng phổ biến và các nghiên cứu về nhân tố quản trị công ty tác động đến hành vi QTLN. Từ kết quả tổng quan, tác giả sẽ phân tích nêu ra khoảng trống nghiên cứu, biện luận để định hƣớng cho nội dung nghiên cứu luận văn. Nội dung của chƣơng bao gồm: - Các nghiên cứu về mô hình đo lƣờng hành vi QTLN; - Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại các NHTM; - Khoảng trống nghiên cứu.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường theo cơ sở dồn tích Hiện nay, có hai phƣơng pháp kế toán là kế toán theo cơ sở dồn tích (AEM) và kế toán theo cơ sở tiền (REM). Đối với kế toán theo cơ sở dồn tích đƣợc quy định dành cho các nghiệp vụ phát sinh nên NQL có thể tác động điều chỉnh lợi nhuận, trong khi đó kế toán theo cơ sở tiền dành để lập báo cáo lƣu chuyển tiền tệ (theo phƣơng pháp trực tiếp) là thực thu, thực chi nên NQL không thể điều chỉnh các giao dịch.
Nhƣ vậy, biến kế toán dồn tích đƣợc tạo ra là do chênh lệch giữa lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (lợi nhuận sau thuế) và dòng tiền của báo cáo lƣu chuyển tiền tệ (theo phƣơng pháp trực tiếp). Biến kế toán dồn tích có công thức nhƣ sau: 6 Biến kế toán dồn tích = Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh. Các nhà nghiên cứu trƣớc đây đã xác định, để biết hành vi điều chỉnh lợi nhuận kế toán của các nhà quản trị có xảy ra hay không, thì phải xác định biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh, bởi vì biến này liên quan đến hoạt động của công ty trong điều kiện bình thƣờng. Do đó, tác giả sẽ trình bày một số phƣơng pháp xác định biến kế toán không thể điều chỉnh qua những mô hình nghiên cứu sau đây: 1.1 Mô hình của Healy (1985) Healy (1985) lần đầu tiên giới thiệu dồn tích bất thƣờng NDA, đây đƣợc xem là mô hình đầu tiên đo lƣờng về hành vi QTLN, ông đã sử dụng mẫu của 94 công ty tại Mỹ vào những năm 1980 để xem xét, phân tích các hợp đồng về tiền thƣởng có tác động đến hành vi QTLN.
Để thực hiện nghiên cứu này Healy (1985) đã giả định dồn tích bất thƣờng NDA là hằng số không đổi trong một khoảng thời gian nhất định. Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu có tiền thƣởng kế hoạch thì NQL sẽ có động cơ lựa chọn các chính sách kế toán có liên quan đến dồn tích để tác động đến lợi nhuận. Ông lập luận rằng dồn tích bình thƣờng đƣợc cho bằng 0 (zero) tại một thời điểm không đổi; do đó, dồn tích bất thƣờng sẽ là tổng dồn tích và đƣợc xác định bằng công thức. Nếu tổng dồn tích khác 0 thì công ty có xuất hiện hành vi QTLN.
Trong đó: DAit: Biến dồn tích bất thƣờng TAit: Tổng biến dồn tích năm t Ait -1 : Tổng tài sản của năm t-1 7 1.2 Mô hình DeAngelo (1986) DeAngelo (1986) đã thực hiện nghiên cứu với mẫu gồm 64 công ty của thuộc Sở giao dịch chứng khoán Mỹ với những ngƣời đã đề xuất mua tất cả cổ phiếu phổ thông nắm giữ công khai và "chuyển sang tƣ nhân" trong giai đoạn 1973-1982. Với nghiên cứu này DeAngelo đã giả định các thành phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA là phát sinh ngẫu nhiên và nếu doanh nghiệp ở trạng thái hoạt động bình thƣờng thì NDA thời điểm t sẽ bằng NDA thời điểm t-1. Nhƣ vậy, Biến kế toán có thể điều chỉnh t (DA) = Biến kế toán dồn tích t – Biến kế toán dồn tích t-1 cũng chính là lợi nhuận điều chỉnh đƣợc thực hiện thông qua việc lựa chọn các chính sách kế toán của NQL hay có thể gọi đây chính là biểu hiện của hành vi QTLN. Mô hình của DeAngelo cho thấy sự tiến bộ hơn mô hình của Healy (1985) khi TA đã bao gồm NDA nghĩa là mô hình đã xác định dồn tích bất thƣờng (DA) cho mỗi công ty khác nhau qua công thức Trong đó: DAit: Biến dồn tích bất thƣờng TAit: Tổng biến dồn tích năm t T : Tổng biến dồn tích năm t-1 : Tổng tài sản của năm t-1 Nhƣng mô hình này đƣợc giả định công ty trong điều kiện hoạt động bình thƣờng (trạng thái không đổi).
Tuy nhiên, thực tế mức độ kinh doanh của các công ty sẽ thay đổi vào những khoảng thời gian khác nhau. Vì vậy, biến kế toán không thể điều chỉnh sẽ biến động từ năm này sang năm khác. Do đó, mô hình này vẫn có nhƣợc điểm.3 Mô hình Jones (1991) Căn cứ vào hai mô hình của Healy (1985) và DeAngelo (1986) đều giả định các khoản dồn tích có điều chỉnh là bằng không; vì vậy, để khắc phục hạn chế này Jones (1991) đã đƣa ra một mô hình hồi quy tuyến tính nhằm khắc phục nhƣợc điểm của hai mô hình trên trong việc nhận diện hành vi QTLN đó là có tính đến sự thay đổi về mức độ HĐKD của DN. Mô hình của Jones (1991) đƣợc giả định công ty hoạt động trong khoảng thời gian không đổi và sử dụng hai biến độc lập là thay đổi của doanh thu và tài sản cố định để dự đoán biến dồn tích có điều chỉnh (DA), nhƣ vậy, Jones cho rằng khi doanh thu thay đổi sẽ làm cho vốn kinh doanh thay đổi theo và làm cho dồn tích thay đổi, đồng thời khấu hao tài sản cố định làm giảm dồn tích.
Vì vậy, với các sự thay đổi đó (Doanh thu, vốn, dồn tích) làm cho lợi nhuận giảm. Tất cả các điều này đều tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp; do đó, Jones (1991) đã dùng biến doanh thu (REV) và biến tài sản cố định (PPE) nhƣ là các biến độc lập để đo lƣờng DA với mô hình nhƣ sau: Trong đó: NDAit: Biến dồn tích bình thƣờng Ait -1 : Giá trị sổ sách của tổng tài sản doanh nghiệp i tại năm t-1 A REVit: Chênh lệch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp i trong năm t so với doanh thu năm t-1 của doanh nghiệp i PPE it: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp i năm t i = 1,2,3.n: Số lƣợng doanh nghiệp khảo sát 1.4 Mô hình Kothari, Leone, Wasley (2005) Mục đích của Kothari and et al (2005) là muốn xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và hiệu suất hoạt động của công ty. Vì vậy, Kothari đã đƣa vào mô hình Dechow 9 and et al (1995) biến ROA dựa trên hai mô hình gốc cơ bản đó là Jones (1991) và mô hình Jones điều chỉnh (1995). Mô hình này nhằm khắc phục nhƣợc điểm của mô hình DA khi áp dụng cho các công ty có kết quả hoạt động quá tốt.
ROAit-1 + εit-1 Trong đó, ROAit-1 là lợi nhuận trên tổng tài sản của năm t -1.5 Mô hình của Shen (2016) Trên cơ sở mô hình quản trị lợi nhuận của Healy (1985) và các nghiên cứu sau đó đã cho thấy quản trị lợi nhuận là chủ đề phổ biến và cần thiết, nhất là đối với ngành ngân hàng, vì đây là toàn bộ hệ thống tài chính rất quan trọng trong các mối liên kết của nền kinh tế quốc tế nói chung và quốc gia nói riêng.