Đồ án hcmute ảnh hưởng của các điều kiện tổng hợp nano đồng i oxit đến khả năng kháng escherichia coli trong điều kiện in vitro

Đồ án nghiên cứu hcmute ảnh hưởng của các điều kiện tổng hợp nano đồng i oxit đến khả năng kháng escherichia coli, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho bài

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Công nghệ nano

1.1.1. Định nghĩa

1.1.2. Nguồn gốc

1.1.3. Phân loại

1.1.4. Tính chất vật liệu

1.1.4.1. Hiệu ứng diện tích bề mặt
1.1.4.2. Hiệu ứng lượng tử

1.2. Phương pháp tổng hợp

1.2.1. Phương pháp Top-down

1.2.2. Phương pháp Bottom-up

1.3. Ứng dụng của vật liệu nano trong các ngành công nghiệp

1.4. CuNP và Cu2O NP

1.4.1. Giới thiệu về CuNP và Cu2O NP

1.4.2. Hoạt tính và cơ chế kháng khuẩn của CuNP và Cu2O NP

1.5. Đặc điểm sinh học

1.5.1. Khả năng gây bệnh

1.6. Tình hình nghiên cứu

1.6.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.6.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.7. Mục tiêu khóa luận

1.8. Lý do chọn đề tài

2. PHƯƠNG PHÁP

2.1. Tổng hợp Cu2O NP

2.1.1. Phương pháp 1

2.1.2. Phương pháp 2

2.1.3. Phương pháp 3

2.2. Xác định cấu trúc tinh thể, hình thái và kích thước của Cu2O NP

2.3. Kiểm tra hiệu quả tiêu diệt E. coli

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Cơ chế tổng hợp Cu2O NP

3.2. Sự có mặt, hình thái và kích thước Cu2O NP

3.2.1. Hình thái và kích thước Cu2O NP

3.2.2. Cấu trúc và kích thước tinh thể của Cu2O NP trong mẫu

3.3. Đánh giá hiệu quả tiêu diệt E. coli của Cu2O NP theo các nồng độ, pH và thời gian tiếp xúc khác nhau

3.3.1. Hiệu quả tiêu diệt của các mẫu Cu2O NP sau 1 giờ tiếp xúc

3.3.2. Hiệu quả tiêu diệt của các mẫu Cu2O NP sau 24 giờ tiếp xúc

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tác động của nano đồng oxit

Nano đồng oxit (nano đồng oxit) đã thu hút sự chú ý trong nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn, đặc biệt là đối với Escherichia coli. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định tác động của nano đồng oxit đến khả năng kháng Escherichia coli trong điều kiện in vitro. Các mẫu nano đồng oxit được tổng hợp bằng nhiều phương pháp khác nhau, cho phép đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của chúng. Kết quả cho thấy rằng nano đồng oxit có khả năng tiêu diệt vi khuẩn gram âm này một cách hiệu quả, nhờ vào cơ chế tương tác với màng tế bào vi khuẩn, dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc di truyền của chúng.

1.1. Khả năng kháng khuẩn của nano đồng oxit

Khả năng kháng khuẩn của nano đồng oxit được đánh giá thông qua các thí nghiệm in vitro. Các mẫu nano được trộn với huyền phù Escherichia coli và theo dõi hiệu quả tiêu diệt sau các khoảng thời gian tiếp xúc khác nhau. Kết quả cho thấy rằng nano đồng oxit có thể tiêu diệt lên đến 96,26% vi khuẩn sau 1 giờ tiếp xúc, cho thấy tính hiệu quả cao của chúng trong việc kháng khuẩn. Điều này mở ra khả năng ứng dụng nano đồng oxit trong các sản phẩm thực phẩm và y tế nhằm ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.

II. Cơ chế tác động của nano đồng oxit

Cơ chế tác động của nano đồng oxit đến Escherichia coli liên quan đến nhiều yếu tố, bao gồm kích thước, hình thái và nồng độ của hạt nano. Các nghiên cứu cho thấy rằng nano đồng oxit có kích thước nhỏ giúp chúng dễ dàng xâm nhập vào màng tế bào vi khuẩn. Khi tiếp xúc, các hạt nano này tương tác với màng tế bào, gây ra sự phá vỡ cấu trúc và dẫn đến cái chết của vi khuẩn. Hơn nữa, tác dụng kháng khuẩn của nano đồng oxit còn được tăng cường nhờ vào sự hình thành các gốc tự do, làm tổn thương các thành phần sinh học bên trong tế bào vi khuẩn.

2.1. Tác động của kích thước và hình thái

Kích thước và hình thái của nano đồng oxit đóng vai trò quan trọng trong khả năng kháng khuẩn. Các hạt nano có kích thước nhỏ hơn 100 nm thường có diện tích bề mặt lớn hơn, từ đó tăng cường khả năng tương tác với vi khuẩn. Nghiên cứu cho thấy rằng các mẫu nano đồng oxit có hình dạng không đồng nhất có thể tạo ra hiệu ứng kháng khuẩn mạnh mẽ hơn so với các mẫu đồng nhất. Điều này cho thấy rằng việc tối ưu hóa kích thước và hình thái của nano đồng oxit có thể nâng cao hiệu quả kháng khuẩn của chúng.

III. Ứng dụng thực tiễn của nano đồng oxit

Ứng dụng của nano đồng oxit trong ngành thực phẩm và y tế đang ngày càng được mở rộng. Với khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ, nano đồng oxit có thể được sử dụng trong các sản phẩm thực phẩm để ngăn ngừa sự phát triển của Escherichia coli và các vi khuẩn gây bệnh khác. Ngoài ra, nano đồng oxit cũng có thể được ứng dụng trong các sản phẩm y tế như băng gạc kháng khuẩn, giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng. Việc sử dụng nano đồng oxit không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn an toàn cho sức khỏe con người.

3.1. Tương lai của nano đồng oxit trong ngành thực phẩm

Tương lai của nano đồng oxit trong ngành thực phẩm rất hứa hẹn. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các sản phẩm thực phẩm có chứa nano đồng oxit nhằm tăng cường khả năng bảo quản và an toàn thực phẩm. Việc áp dụng công nghệ nano trong sản xuất thực phẩm không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong xã hội hiện đại.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Công nghệ nano 1. Định nghĩa Công nghệ nano là ngành công nghiệp liên quan đến việc thiết kế, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng cách kiểm soát hình dạng, kích thước trên quy mô nanomet (nm, 1nm = 10-9 m) (Lindquist, Mosher‐Howe, & Liu, 2010).

Định nghĩa về hạt nano và vật liệu nano của một số Tổ chức và Quốc gia được trình bày dưới bảng sau: 1 Luan van Bảng 1. Định nghĩa về hạt nano và vật liệu nano của một số Tổ chức và Quốc gia (Darweesh, 2018; Lövestam et al., 2010) Tổ chức/ Hạt nano Vật liệu nano Quốc gia Là hạt có chiều kích thước nằm Một vật liệu có thể có ba chiều kích trong giới hạn nano. Bao gồm cả thước lớn hơn 100 nm nhưng vẫn được ISO-CEN chất lỏng như giọt hoặc micelle coi là vật liệu nano nếu nó có các đặc trong nhũ tương điểm cấu trúc trong giới hạn nano Một vật thể có ba chiều kích thước Bất kỳ hình thái của vật liệu bao gồm EU nằm trong giới hạn nano các bộ phận chức năng riêng biệt, và SCENIHR trong số chúng có nhiều chiều kích thước nằm trong giới hạn nano Hạt có một, hai hoặc ba chiều Đối với những hạt nano có kích thước kích thước nằm trong giới hạn nằm ngoài phạm vi 1-100 nm (trong ACC nano khoảng 50-500 nm), khi có nhiều hơn 10% hạt nằm trong giới hạn nano thì chúng vẫn được coi là vật liệu nano Là hạt có ít nhất một chiều kích Vật liệu có ít nhất một chiều hoặc cấu SCCP thước nằm trong giới hạn nano trúc bên trong nằm trong giới hạn nano, có thể hiện những tính chất nano Hạt có ít nhất một chiều kích Vật liệu có ít nhất một chiều nằm trong thước nằm trong giới hạn nano. giới hạn nano, hoặc có thể lớn hơn ở cả Canada Có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn giới ba chiều nhưng phải thể hiện một hoặc hạn nano nhưng thể hiện tính chất nhiều tính chất nano nano ISO-CEN: International Organisation for Standardisation và The European Standardisation Committee; EU SCENNIHR: European Union Scientifc Committee on Emerging and Newly Identifed Health Risks; ACC: Ametican Chemistry Council; SCCP: EU Scientific Committee on Comsumer Products; 1.

Nguồn gốc Thuật ngữ công nghệ nano lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1959 bởi nhà vật lý học người Mỹ Richard P. Feynman, điều này đã truyền cảm hứng cho các nhà khoa học thời bấy giờ trong việc khám phá ra nguyên tử cũng như vũ trụ. Theo ý tưởng của Feynman, công 2 Luan van nghệ của tương lai sẽ được xây dựng trên cơ sở các nguyên tử có kích thước rất nhỏ. Cho tới năm 1982, nhờ sự ra đời của hàng loạt các thiết bị phân tích như kính hiển vi đầu dò quét (SPM: Scanning Probe Microscope hay STM: Scanning Tunneling Microscope), kính hiển vi lực nguyên tử (AFM: Atomic Force Microscope) cho phép quan sát mẫu vật ở kích thước vài nguyên tử hay phân tử.

Từ đó, các nhà khoa học mới được tiếp cận và hiểu một cách rõ ràng hơn về lĩnh vực nano (Ramsden, 2016). Năm 1983, khái niệm công nghệ nano đã được quan tâm nhiều và đã được chọn làm hướng nghiên cứu triển khai tại phòng thí nghiệm Vật lý Quốc gia Anh NPL (UK). Ba năm sau, cơ quan quốc gia đầu tiên về công nghệ nano được chính thức ra đời. Cho tới nay, công nghệ nano ngày càng thu hút được sự quan tâm đặc biệt từ các nhà khoa học và kỹ sư trên toàn thế giới.

Và trong tương lai, việc hiểu biết sâu rộng về các tính chất đặc biệt của công nghệ nano sẽ góp phần đem lại tiềm năng cải thiện chất lượng cuộc sống (Sudha, Sangeetha, Vijayalakshmi, & Barhoum, 2018). Phân loại Vật liệu nano có kích thước cực kỳ nhỏ, có thể được phân loại theo cấu trúc, nguồn gốc,…Theo cấu trúc, vật liệu nano được chia thành vật liệu nano có kích thước không chiều như các chấm lượng tử hay các tinh thể nano bán dẫn có kích thước bé hơn 10nm; một chiều như ống nano, sợi nano, dây nano,…; hai chiều như các màng mỏng; ba chiều như kết tủa, hạt keo. Chúng có thể tồn tại ở dạng đơn, tổng hợp hoặc kết tụ ở dạng hình cầu hoặc hình ống không đồng đều (Darweesh, 2018; Dolez, 2015). Theo nguồn gốc, vật liệu nano được chia thành hai loại là tự nhiên và nhân tạo.

Các hạt nano tự nhiên bao gồm một số dạng đất sét được cấu thành từ các hạt nano xếp chồng có độ dày từ 70 đến 150nm, các hạt bụi tạo ra từ các vụ phun trào núi lửa,… Các hạt nano nhân tạo là các hạt được tổng hợp bằng cách sử dụng đa dạng các chất hóa học như kim loại, chất bán dẫn, oxide kim loại, polymer,… (Dolez, 2015). Tính chất vật liệu Khi kích thước của vật liệu giảm tới kích thước nano thì sự khác biệt về vật lý và hóa học giữa vật liệu nano và vật liệu khối trở nên rõ rệt mặc dù có sự giống nhau về thành phần nguyên tố (Sudha et al. Hai yếu tố chính để tạo nên sự khác biệt giữa chúng là hiệu ứng tăng diện tích bề mặt tương đối và hiệu ứng lượng tử (Darweesh, 2018). Hiệu ứng diện tích bề mặt Hiệu ứng diện tích bề mặt: khi vật liệu ở kích thước nanomet thì chúng có diện tích bề mặt rất lớn và lớn hơn rất nhiều so với vật liệu khối.

Đối với các hạt nano hình cầu, diện tích bề mặt cụ thể tăng tỷ lệ nghịch với đường kính của hạt. Ví dụ như 10g bạc dưới dạng các hạt nano hình cầu có đường kính 10nm thì tổng diện tích bề mặt của chúng là khoảng 600m2, so với quả cầu bạc rắn cùng khối lượng thì diện tích bề mặt của nó chỉ khoảng 5cm2. Từ đó, có thể thấy tổng diện tích bề mặt của vật liệu nano tăng với một hệ số khoảng 1200000 (Lövestam et al. Bên cạnh đó, đối với vật liệu khối, hầu hết các nguyên tử phân bố bên trong khối vật liệu, còn đối với vật liệu nano thì các nguyên tử phân bố trên bề mặt vật liệu, nên chúng thể hiện các tính chất đặc biệt khác (Ghosh, 2015).

Vì các phản ứng sinh học và hóa học thường xảy ra trên bề mặt vật liệu nên các nhà khoa học hy vọng vật liệu nano sẽ phản ứng mạnh hơn nhiều so với vật liệu khối (Lövestam et al. Đặc biệt, nhờ có kích thước rất nhỏ mà nano đồng dễ dàng xâm nhập qua màng tế bào và tương tác với cấu trúc nội bào của vi khuẩn. Đồng thời, chúng tác động trực tiếp lên màng tế bào và phá vỡ cấu trúc di truyền của tế bào vi khuẩn. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hạt nano đồng có kích thước càng bé thì hoạt tính kháng khuẩn của chúng càng cao (Godymchuk et al.

Hiệu ứng lượng tử Hiệu ứng lượng tử là một trong những tính chất quan trọng của vật liệu nano giúp phân biệt chúng với vật liệu khối. Khi các cấu trúc nano bán dẫn có kích thước ở cấp độ nguyên tử thì các hiệu ứng cơ học lượng tử ảnh hưởng quan trọng vào các tính chất quang học, điện và từ tính của hệ. Điều này được biết đến là do khi kích thước của một hạt nhỏ cỡ bán kính của Bohr thì sẽ xuất hiện hiệu ứng giam giữ lượng tử, trong đó các trạng thái điện tử cũng như trạng thái dao động trong hạt bị lượng tử hóa. Hiệu ứng giam giữ lượng tử làm cho hạt vật liệu có tính chất giống như một nguyên tử nhân tạo và làm thay đổi cấu trúc vùng năng lượng, từ đó làm thay đổi các tính chất vật lý khác (Nguyễn Thành Tiên, 2016).

Trong đó có tính dẫn điện, từ tính, điểm nóng chảy,… Thông thường, cơ chế kháng khuẩn của hạt nano là quá trình gắn các hạt nano vào màng tế bào vi khuẩn bằng cách tương tác tĩnh điện và phá vỡ cấu trúc nội bào của vi khuẩn (Hajipour, M. Phương pháp tổng hợp Có hai phương thức cơ bản để chế tạo vật liệu nano là “top-down” từ trên xuống và “bottom-up” từ dưới lên. Phương pháp Top-down “Top-down” nghĩa là chia nhỏ một hệ thống lớn để tạo ra được đơn vị kích thước nano như phương pháp nghiền, làm biến dạng, phay cơ (mechanical milling), cắt đốt bằng tia laser (laser ablation),…(Bhushan, 2017). Phương pháp này được hình thành và phát triển từ những năm 1960, dùng để chế tạo các linh kiện rời rạc, mạch tổ hợp có kích thước nanomet theo nguyên lý: từ vật liệu khối hay phiến bán dẫn lớn ban đầu, rồi trải qua nhiều quá trình công nghệ để tạo ra các chip, mỗi chip có hàng triệu linh kiện điện tử có kích thước micromet hoặc nanomet.

Ở giai đoạn đầu, phương pháp này chiếm ưu thế hơn. Tuy nhiên, khi kích thước giảm nhỏ hơn 45nm thì sẽ gây khó khăn trong việc chế tạo, đặc biệt là công nghệ khắc ở kích thước nano vẫn chưa hoàn thiện dẫn đến giá thành sản phẩm cao (An, 2009). Phương pháp Bottom-up Ngược lại, “bottom-up” là phương pháp lắp ghép các nguyên tử, phân tử để thu được các hạt có kích thước nano bao gồm các phương pháp hóa học như tổng hợp sol-gel, lắng đọng hơi hóa học, phương pháp tự lắp ghép (self-assembly), thủy nhiệt, kỹ thuật nhũ tương vi mô, điện hóa,…(Bhushan, 2017; Tamilvanan, Balamurugan, Ponappa, & Kumar, 2014). Phương pháp hóa học được cho là một cách dễ dàng để tổng hợp nên các hạt nano vì kích thước, hình thái, sự phân bố,… của các hạt có thể được kiểm soát bằng cách tối ưu hóa các điều kiện phản ứng như thời gian phản ứng, pH, chất bao,…(Tamilvanan et al.

Hạt nano tạo ra từ phương pháp bottom-up chủ yếu xây dựng dựa trên cơ sở hóa học, việc tối ưu các điều kiện phản ứng giúp làm giảm kích thước hạt nano, từ đó, chất lượng cũng như khả năng ứng dụng của các hạt nano cao hơn. Hiện nay con người đang có xu hướng đi theo con đường tổng hợp xanh trong mọi lĩnh vực, bao gồm cả ngành kỹ thuật hóa học. Việc tổng hợp nano ứng dụng trong ngành thực phẩm yêu cầu các hóa chất sử dụng cần phải thân thiện. Do đó, có rất nhiều phương pháp sử dụng carbohydrate, dịch trích từ một số loại cây,… để làm chất khử thay cho một số chất độc hại như hydrazine (N2H4),… (Gültekin, Güngör, Önem, Babagil, & Nadaroğlu, 2016) 5 Luan van Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận bottom-up, cụ thể là phương pháp hóa học.

Nguyên lý của phương pháp này dựa trên cơ sở các phản ứng hóa học dưới các điều kiện đặc biệt để tổng hợp nên Cu2O NP từ muối đồng nhờ các tác nhân khử như hydrazine hydrate (N2H4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Tác động của nano đồng oxit đến khả năng kháng Escherichia coli trong điều kiện in vitro" khám phá vai trò của nano đồng oxit trong việc tăng cường khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn Escherichia coli. Nghiên cứu chỉ ra rằng nano đồng oxit không chỉ có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn mà còn có thể được ứng dụng trong việc phát triển các phương pháp điều trị mới cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn. Điều này mang lại lợi ích lớn cho độc giả, đặc biệt là những ai quan tâm đến lĩnh vực y học và công nghệ sinh học, vì nó mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm kháng khuẩn hiệu quả hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các ứng dụng trong công nghệ sinh học, hãy tham khảo bài viết "Nghiên cứu thu nhận chế phẩm phytoestrogen từ phôi đậu tương ngành công nghệ sinh học", nơi bạn có thể khám phá thêm về các chế phẩm sinh học có tiềm năng. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu thu nhận và làm sạch lactase từ lactobacillus acidophilus" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các vi sinh vật có lợi trong công nghệ thực phẩm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về "Phân lập sàng lọc và tuyển chọn chủng vi sinh vật phân hủy polyetylen từ mẫu đất", một nghiên cứu thú vị về khả năng phân hủy chất thải nhựa, góp phần vào bảo vệ môi trường. Những bài viết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các ứng dụng của công nghệ sinh học trong đời sống.