MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài * Nhóm công trình nghiên cứu về lối sống và lối sống thanh niên Trước hết là một số nghiên cứu tiêu biểu của các học giả nước ngoài như: nhà Tâm lý học người Áo Alfred Adler (1870-1937) khi bàn về tâm lý cá nhân (individual psychology) lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm “lối sống” - một khái niệm có thể được hiểu tương đương với khái niệm lifestyle, life-style hay style of life trong tiếng Anh và mode de vie trong tiếng Pháp. Vào những năm 1970, lối sống được đưa ra vừa như một khái niệm khoa học vừa mang tính thực nghiệm trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: nghiên cứu về các cộng đồng di cư, nghiên cứu về đô thị, nghiên cứu về tiếp thị, chính sách cộng đồng, du lịch, và lý thuyết xã hội nói chung (Veal 2001).
Vào những năm 1980 khái niệm lối sống thu hút được nhiều hơn sự chú ý của các nhà xã hội học quan tâm đến cơ cấu xã hội nói chung (Bourdieu 1980; Scheys 1987), tuy nhiên phải đến cuối những năm 1980 thì lối sống mới trở thành một thuật ngữ thực sự và thuật ngữ này tiếp tục được xây dựng trong thập kỷ tiếp theo và được sử dụng đắc lực trong các nghiên cứu xã hội học về thời gian thư nhàn (Veal 2000). Tác giả David Chaney thậm chí đã viết riêng một cuốn sách mang tên Lối sống (1996) và kết luận rằng: “…hiện tượng xã hội về lối sống là một đặc điểm gắn liền với sự phát triển của hiện đại, đặc biệt với ý nghĩa là lối sống là một biểu hiện rất quan trọng của sự tìm kiếm bản sắc cá nhân và nó đồng thời cũng là một đặc điểm xác định tính hiện đại” (Chaney 1996: 158). Bên cạnh đó, khái niệm lối sống đặc biệt còn được bàn bạc trong nghiên cứu xã hội học về thời gian nhàn rỗi. Những tác phẩm tiêu biểu bàn đến thuật ngữ này nhiều nhất là Leisure in Contemporary Society [Thời gian rỗi trong xã hội đương đại] (1999) của Ken Roberts, Youth Lifestyles in a Changing World [Lối sống của thanh niên trong thế giới đang thay đổi] 9 (2000) của Steven Miles hay Leisure and Culture [Giải trí và văn hoá] (2000) của Chris Roje.
Về lối sống thanh niên, một trong những nghiên cứu tiêu biểu được giới thiệu là công trình của Steven Miles (2000) với việc đề xuất dùng khái niệm lối sống thanh niên phù hợp hơn là tiểu văn hoá thanh niên trong nghiên cứu về thanh niên ngày nay. * Nhóm công trình nghiên cứu về các PTTTM, MXH và sự ảnh hưởng tác động của chúng tới cuộc sống con người Với sự phát minh ra Internet ở thế kỷ XXI, thế giới trở thành một ngôi làng toàn cầu theo đúng nghĩa của nó, và quá trình làm phẳng thế giới đang diễn ra nhanh hơn bao giờ hết. Internet kết nối mọi người ở khắp nơi trên thế giới, xóa đi mọi khoảng cách về không gian địa lý và thời gian. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nhu cầu chia sẻ thông tin, kết nối bạn bè ngày càng phát triển đã thúc đẩy sự ra đời của MXH.
Và khi ra đời, MXH đã có những ảnh hưởng, tác động không nhỏ làm thay đổi cuộc sống, lối sống của con người nhất là khi nó đang trở thành một phần cuộc sống của những nhóm xã hội, cộng đồng trên khắp thế giới với đối tượng sử dụng đông đảo nhất chính là giới trẻ bởi họ đã tìm kiếm được nơi thỏa mãn gần như hoàn hảo mọi nhu cầu về thông tin, giải trí, kết nối. Cho đến nay, sự ảnh hưởng, tác động của các PTTTM đối với đời sống xã hội của con người đương đại là chủ đề hấp dẫn với các học giả phương Tây, thậm chí có nhà nghiên cứu còn nhận định: nghiên cứu về các PTTTM hiện đang là một trào lưu rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Điều này có thể được minh chứng bằng sự việc hằng năm, các nhà nghiên cứu về các PTTTM vẫn thường nhóm họp trong các cuộc hội thảo được tổ chức ở nhiều nơi như Philipin (2003), Hồng Kông (2004), Trung Quốc (2005), Hàn Quốc (2006), Nga, Pháp và Philipin (2007)… để trao đổi kinh nghiệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về hiện tượng lý thú này. Các chuyên gia cũng tập hợp nhau lại thành một cộng đồng với tên gọi “Mobile-society” trên địa chỉ 10 trang web groups.com/group/mobile-society để giữ liên hệ thường xuyên với nhau hơn, trong đó, các nhà nghiên cứu thuộc các nước ở khu vực Đông Á, Phần Lan, Mỹ, Úc, Italia, Pháp, Hà Lan là những thành viên tích cực nhất của nhóm nghiên cứu này với sự góp mặt của các học giả nổi tiếng như James Katz, Mama Aakhus, Leopoldina Fortunati, Christian Licoppe, Sum Dong Kim, Patrick Law, Rama Pertierra.
Theo nhận định của PGS. Bùi Hoài Sơn (2008), trên thực tế, việc nghiên cứu về các PTTTM trên thế giới đã trải qua 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu với các nghiên cứu mang nặng tính mô tả để trả lời các câu hỏi: Ai là người sử dụng các PTTTM; Họ sử dụng với tần suất như thế nào và mục đích sử dụng ra sao; Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc sử dụng các PTTTM đó; Tiến hành các nghiên cứu so sánh việc sử dụng giữa các quốc gia với nhau… Giai đoạn thứ hai được đặc trưng bởi những giải thích về việc sử dụng các PTTTM thông qua các lý thuyết hoặc phát triển lý thuyết thông qua các phân tích về các PTTTM. Kết quả là, một loạt các cuốn sách được ra đời, tiêu biểu như: Machines That Become Us: The Social Context of Personal Communicication Techology ( 2001) do J.
Katz biên tập; Perpetual Contact: Mobile Commmunicication, Private Talk, Puplic Performance ( 2002) do J.Aakhus biên tập; Wireless World; Social and Interactional Aspects of the Mobile Age do D. Sanger biên tập hay Mediating The Human Body; Technology, Communication and Fashion (2003) do L.Riccini biên tập… Trong nhiều công trình, các lý thuyết được áp dụng nhiều nhất bởi các nhà nghiên cứu là lý thuyết “vòng xoáy của sự im lặng” (The Sprial of Silence), “quá trình cá nhân hóa” (personalizalion), “vốn xã hội” (Social Capital). Việc lý giải những biến đổi xã hội hay văn học hoặc trong tâm lý của các cá nhân cũng là chủ đề chính trong giai đoạn nghiên cứu này. 11 Được xem như một kênh truyền thông mới, kể từ khi xuất hiện cho tới nay, hàng trăm MXH khác nhau đã được thiết lập thu hút số lượng người sử dụng ngày càng đông đảo (trong đó chiếm đại bộ phận là thanh, thiếu niên) mang lại nhiều tiện ích cho cuộc sống con người song cũng không ít biểu hiện tiêu cực đã nảy sinh từ hệ lụy của chứng “nghiện” MXH.
Những vấn đề đó đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Cuốn sách The Virtual Community: Homesteading on the Electronic Frontier (1993) của Howard Rheingold được xem như kết quả của một cuộc điều tra xã hội, ở đó thảo luận về các cuộc tìm tòi việc giao tiếp thông qua liên lạc sử dụng máy tính làm trung gian và thông qua các nhóm xã hội, mở rộng chúng thành khoa học thông tin. Rheingold đã chỉ ra những lợi ích tiềm tàng cho các cá nhân cũng như cho xã hội nói chung khi gia nhập những nhóm như vậy. Thuật ngữ “cộng đồng ảo” (virtual community) mà hiện chúng ta hay dùng để chỉ cộng đồng cư dân mạng xuất hiện đầu tiên chính trong công trình này.
Ba năm sau đó, Rob Shields công bố công trình Cultures of Internet; Virtual Spaces, Real Histories, Living Bodies (1996) cho thấy người sử dụng Internet với nhiều lý do như: tranh luận, đưa ra quan điểm cá nhân, buôn bán, lập kế hoạch, sáng tạo, yêu đương, hận thù… và có các tính chất khác nhau như: quan hệ giữa cá nhân, tính chất hòa đồng, thoải mái, trao đổi văn hóa, giúp đỡ của thành viên công xã… Media Studies (1998) của Stuart Price được biết đến như một nghiên cứu sâu về các loại hình truyền thông đại chúng, tác giả đặc biệt chú ý đến hiện tượng các PTTTM với những thay đổi mà chúng đã, đang và sẽ mang đến cho cuộc sống con người. Trong cuốn The psychology of the Internet (1999), Patricia M. Wallace đã công bố những thực nghiệm về cách con người ứng xử khi tương tác, giao tiếp trực tuyến và lý giải về sự ảnh hưởng của môi trường trực tuyến tới hành vi của con người theo những cách đáng ngạc nhiên. Trong đó, một trong 12 những tác động đáng chú ý khi con người tương tác với nhau trên Internet, theo ông, là họ làm mất đi những hành vi cử chỉ phi ngôn ngữ và bản chất “lạnh” khi giao tiếp online có thể dẫn đến nhiều vấn đề.
Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến một số vấn đề như sự nhạy cảm của thanh thiếu niên với hành vi lừa đảo trên mạng, hành vi tình dục… Thomas L. Friedman trong Thế Giới Phẳng (2006) đã nhấn mạnh đặc biệt vai trò của các phương tiện truyền thông như một trong những yếu tố căn bản nhất góp phần làm cho thế giới trở nên “phẳng” thông qua các loại tín hiệu kỹ thuật số, các chương trình Internet, điện thoại di động với nhiều chức năng mới, và nhiều hình thức lưu trữ, chuyển tải thông tin khác. Trong Social networks and Internet usages by the young generations (2013) Sophie Tan-Ehrhardt đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của MXH và Internet trong xã hội hiện đại, đồng thời chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng MXH và Internet. Nghiên cứu đã tiến hành so sánh những thói quen này với hành vi trong đời thực của các đối tượng sử dụng cũng như tìm hiểu những quan điểm của thế hệ trẻ về MXH hiện nay.
Một nghiên cứu khác là Young and old use social media for surprisingly different reasons đã chỉ ra những lý do mà mọi người tham gia sử dụng MXH, tìm hiểu MXH đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào và dự báo xu hướng sử dụng MXH trong tương lai ra sao. Ngoài ra, bàn về các PTTTM trong đó có MXH và những tác động của chúng đến con người còn có hàng loạt các bài viết đăng tải trên các website chính thống hoặc không chính thống. Các tác giả chủ yếu bàn tới hai mặt lợi ích và tác hại mà MXH mang đến cho người dùng. Và đa số ý kiếu đều thống nhất cho rằng: sẽ không có giải pháp nào hiệu quả và tối ưu hơn là từ chính việc siết chặt công tác quản lý của cơ quan chức năng có thẩm quyền và sự nhận thức, mục đích của người sử dụng.