Luận văn thạc sĩ hus đánh giá tác động của luật thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành hà nội

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu hus đánh giá tác động của luật thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Thực trạng và tác hại của việc sử dụng túi nylon

1.1. Thực trạng của việc sử dụng túi nylon

1.2. Tác hại của việc sử dụng túi nylon

1.3. Luật thuế bảo vệ môi trường và một số văn bản dưới luật

1.3.1. Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường

1.3.2. Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường

1.3.3. Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường

1.3.4. Một số văn bản dưới luật

1.3.5. Luật thuế bảo vệ môi trường

1.3.6. Nghị định 67/2011/NĐ-CP

1.3.7. Thông tư 152/2011/TT-BTC

1.3.8. Nghị định 69/2012/NĐ-CP

1.3.9. Thông tư 159/2012/TT-BTC

1.4. Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trường áp dụng với túi nilon ở Việt Nam

1.5. Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trường

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Siêu thị BigC

2.3. Siêu thị Co. Quận Cầu Giấy

2.4. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả xử lý phiếu điều tra về hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội

3.1.1. Thành phần đối tượng khảo sát

3.1.2. Thói quen sử dụng túi nilon của người dân

3.1.3. Sự hiểu biết về vấn đề môi trường và tác hại của túi nilon của người dân

3.1.4. Mức sẵn lòng của người dân tham gia vào biện pháp, chính sách giảm thiểu việc sử dụng túi nylon

3.1.5. Ảnh hưởng của sự nhận thức và thu nhập (tài chính) đến sự sẵn lòng trả tiền cho việc sử dụng túi nylon của người dân

3.1.6. Hình thức của túi nylon và số tiền mà người dân chịu chi trả cho 1 túi nylon

3.1.7. Mức độ tán thành của người dân đối với việc áp dụng một chương trình chính sách pháp luật nào của nhà nước phát động nhằm giảm thiểu sử dụng túi nilon tại chợ/siêu thị

3.1.8. Tác động của Luật thuế bảo vệ môi trường đến việc hạn chế sử dụng túi nilon trong cộng đồng dân cư nội thành Hà Nội

3.1.9. Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng doanh nghiệp siêu thị

3.1.10. Kết quả xử lý phiếu điều tra từ đối tượng người dân

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tác động của Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường

Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường được ban hành nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của túi nilon đến môi trường. Tại Hà Nội, việc sử dụng túi nilon đã trở thành thói quen phổ biến, gây ra nhiều vấn đề về ô nhiễm. Luật này không chỉ nhằm mục đích thu thuế mà còn khuyến khích người dân thay đổi hành vi tiêu dùng, hướng tới việc bảo vệ môi trường.

1.1. Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường và Mục tiêu của nó

Luật này được thiết kế để khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững, giảm thiểu rác thải nhựa, đặc biệt là túi nilon. Mục tiêu chính là nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của túi nilon đối với môi trường.

1.2. Tình hình sử dụng túi nilon tại Hà Nội

Tại Hà Nội, trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng hàng triệu túi nilon mỗi năm. Sự tiện lợi của túi nilon đã khiến người dân khó từ bỏ thói quen này, mặc dù nhận thức về tác hại của nó đang gia tăng.

II. Vấn đề và Thách thức trong việc giảm sử dụng túi nilon

Mặc dù Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường đã được ban hành, nhưng việc thực thi và thay đổi hành vi của người dân vẫn gặp nhiều khó khăn. Các thách thức bao gồm thói quen tiêu dùng, sự thiếu hiểu biết về tác hại của túi nilon và sự thiếu các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường.

2.1. Thói quen tiêu dùng và sự phụ thuộc vào túi nilon

Người dân thường có thói quen sử dụng túi nilon vì sự tiện lợi. Việc thay đổi thói quen này đòi hỏi thời gian và nỗ lực từ cả cộng đồng và chính phủ.

2.2. Thiếu sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường

Sự thiếu hụt các sản phẩm thay thế như túi vải hoặc túi giấy khiến người tiêu dùng khó khăn trong việc từ bỏ túi nilon. Cần có các chính sách khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm này.

III. Phương pháp và Giải pháp chính để giảm thiểu túi nilon

Để giảm thiểu việc sử dụng túi nilon, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính phủ và cộng đồng. Các giải pháp này bao gồm giáo dục cộng đồng, khuyến khích sử dụng sản phẩm thay thế và áp dụng các chính sách thuế hiệu quả.

3.1. Giáo dục cộng đồng về tác hại của túi nilon

Cần tổ chức các chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khỏe. Việc này có thể thực hiện qua các buổi hội thảo, chiến dịch truyền thông.

3.2. Khuyến khích sử dụng sản phẩm thay thế

Chính phủ cần khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi vải, túi giấy. Các chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thay thế cũng cần được xem xét.

IV. Ứng dụng thực tiễn và Kết quả nghiên cứu về hành vi sử dụng túi nilon

Nghiên cứu cho thấy rằng Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường đã có những tác động tích cực đến hành vi sử dụng túi nilon của người dân. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đạt được mục tiêu giảm thiểu rác thải nhựa.

4.1. Kết quả khảo sát hành vi sử dụng túi nilon

Khảo sát cho thấy một phần lớn người dân đã bắt đầu giảm sử dụng túi nilon sau khi có luật thuế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của túi nilon.

4.2. Tác động của chính sách thuế đến hành vi tiêu dùng

Chính sách thuế đã tạo ra động lực cho người dân thay đổi thói quen tiêu dùng. Nhiều người đã bắt đầu sử dụng túi vải hoặc các sản phẩm thay thế khác.

V. Kết luận và Tương lai của việc sử dụng túi nilon tại Hà Nội

Việc giảm thiểu sử dụng túi nilon là một thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để xây dựng một cộng đồng bền vững hơn. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp và người dân để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tương lai của Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường

Luật này cần được điều chỉnh và hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn. Các chính sách cần linh hoạt và hiệu quả hơn trong việc khuyến khích người dân giảm sử dụng túi nilon.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường

Cộng đồng cần tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, từ việc giảm sử dụng túi nilon đến việc tham gia các chương trình tái chế và bảo vệ thiên nhiên.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus đánh giá tác động của luật thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 khẳng định lại “Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hoá và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường”. Nghị định 69/2012/NĐ-CP - Tại Điều 1 của Nghị định đã nêu: Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường như sau: “3. Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density Lương Thị Bích Việt 16 K18 - Quản lý môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại Khoản này (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi), bao gồm: a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa nhập khẩu; b) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói; c) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói.

Thông tƣ 159/2012/TT-BTC Là Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 152/2011/TT-BTC sau khi có Nghị định 69/2012/NĐ-CP. Thông tư có nêu: - Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 1 nhƣ sau: “4. Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm Lương Thị Bích Việt 17 K18 - Quản lý môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên quyền cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá (kể cả có hình dạng túi và không có hình dạng túi) tại khoản này được quy định cụ thể như sau: a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa bao gồm: a1) Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá nhập khẩu. a2) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói. Ví dụ 1: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi ni lông) để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 100 kg bao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Bao bì mà người sản xuất hoặc người nhập khẩu đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không sử dụng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Ví dụ 2: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi ni lông), doanh nghiệp A đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói), nếu doanh nghiệp A chỉ sử dụng 20 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 30kg bao bì để trao đổi, 40kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 10kg bao bì để tặng cho thì doanh nghiệp A phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 80 kg bao Lương Thị Bích Việt 18 K18 - Quản lý môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. a3) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói. Ví dụ 3: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì để đóng gói sản phẩm áo sơ mi (sản phẩm áo sơ mi do doanh nghiệp B sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 200 kg bao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Bao bì mà người mua không sử dụng để đóng gói sản phẩm (đã có cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm) mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho hoặc bán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác thì người mua bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Ví dụ 4: Doanh nghiệp B mua trực tiếp của doanh nghiệp A (là người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì) 200 kg bao bì sản xuất để đóng gói sản phẩm (đã có cam kết về việc mua bao bì để đóng gói sản phẩm), sản phẩm giầy do doanh nghiệp B, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì nếu doanh nghiệp B chỉ sử dụng 50 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 20kg bao bì để trao đổi, 30kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 40kg bao bì để tặng cho, 60kg bao bì bán cho doanh nghiệp C thì doanh nghiệp B phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp đối với 150 kg bao bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội Lương Thị Bích Việt 19 K18 - Quản lý môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên bộ, tặng cho, bán cho Doanh nghiệp C và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. a4) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa quy định tại tiết a2 và a3 điểm này không bao gồm túi đựng hàng hóa khi bán hàng. Ví dụ 5: Siêu thị A hoặc cửa hàng B mua trực tiếp 100 kg túi ni lông của doanh nghiệp C (là người sản xuất hoặc người nhập khẩu), trong đó 50 kg túi ni lông để đựng hàng hoá do siêu thị A hoặc cửa hàng B bán ra cho khách hàng và 50 kg túi ni lông để đóng gói sản phẩm (sản phẩm do Siêu thị A hoặc cửa hàng B sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 50 kg túi ni lông để đựng hàng hoá trong trường hợp này không phải là bao bì đóng gói sẵn hàng hoá. b) Bao bì sản xuất hoặc nhập khẩu được xác định là bao bì đóng gói sẵn hàng hoá quy định tại tiết a2 và a3 điểm a khoản này phải có các giấy tờ sau: b1) Đối với bao bì do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất (gọi tắt là người sản xuất bao bì): - Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì đó sản xuất hoặc gia công ra thì người sản xuất bao bì phải có Bản chính văn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao bì và đóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuất bao bì để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuất bao bì (trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sản phẩm dự kiến sản xuất hoặc gia công ra, số lượng sản phẩm cần đóng gói và số lượng bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm).

- Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì ngoài Bản chính văn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao Lương Thị Bích Việt 20 K18 - Quản lý môi trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác động của Luật Thuế Bảo Vệ Môi Trường đến Hành Vi Sử Dụng Túi Nilon tại Hà Nội" phân tích những ảnh hưởng của luật thuế bảo vệ môi trường đối với thói quen sử dụng túi nilon của người dân tại Hà Nội. Tài liệu chỉ ra rằng việc áp dụng thuế này không chỉ giúp giảm thiểu lượng túi nilon sử dụng mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà chính sách này có thể thay đổi hành vi tiêu dùng, từ đó góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề môi trường liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của các thủy điện trên sông sê san tới vùng hạ lưu và đề xuất giả pháp giảm thiểu, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của các dự án thủy điện đến môi trường. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và đề xuất phương án xử lý trong nhà máy sản xuất phân bón tổng hợp tại kcn phú thành xã phú thành huyện lạc thủy cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp xử lý ô nhiễm không khí trong ngành công nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn dư polyclo biphenyl pcb trong đất tại một số khu vực của hà nội và đề xuất giải pháp sẽ cung cấp thông tin về ô nhiễm đất và các biện pháp khắc phục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường hiện nay.