chương 1, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương 2, tác giả trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trong chương 3, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương 4, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết đề ra.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Trong chương 5, tác giả trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu, đóng góp và hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 10 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về ý định sử dụng 2. Lý thuyết hành vi dự định (TPB) Ý định hành vi là mục tiêu hay kế hoạch thực hiện hành vi của mỗi cá nhân (Fishbein & Ajzen, 1975).
Lý thuyết hành vi dự định được mở rộng từ lý thuyết hành động hợp lý của Ajzen & Fishbein, 1980 đã trở nên thật sự cần thiết vì những hạn chế của mô hình ban đầu trong việc giải quyết các hành vi mà con người không kiểm soát được hoàn toàn ý chí. Nhân tố trọng tâm trong TPB là ý định của cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định (Ajzen, 1991). Ý định được giả định để tìm hiểu các nhân tố thúc đẩy làm ảnh hưởng đến một hành vi; điều đó thể hiện mức độ sẵn sàng cố gắng, mức độ nỗ lực mà con người dự định thực hiện để thực hiện hành vi đó. Theo quy luật thì ý định thực hiện một hành vi càng lớn thì khả năng con người thực hiện hành vi đó càng cao.
Ý định có ảnh hưởng đến hiệu suất trong phạm vi mà con người kiểm soát được hành vi, và hiệu suất sẽ tăng lên cùng với việc kiểm soát hành vi mà con người có động lực để cố gắng. Theo như TPB thì việc thực hiện hành vi là chức năng chung của ý định và nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Để dự đoán chính chính xác thì cần phải đáp ứng một số điều kiện sau. Đầu tiên, các phương thức đánh giá ý định và nhận thức kiểm soát hành vi phải tương ứng hoặc tương thích với hành vi được dự đoán (Ajzen & Fishbein, 1977; Ajzen, 1988).
Đó là việc ý định và nhận thức kiểm soát hành vi phải được đánh giá trong mối quan hệ của hành vi cụ thể và bối cảnh cụ thể phải giống với bối cảnh diễn ra hành vi đó. Điều kiện thứ hai để dự đoán chính xác hành vi là ý định và nhận thức kiểm soát hành vi phải được duy trì ổn định trong lúc đánh giá và quan sát hành vi. Và điều kiện thứ ba đối với giá trị dự đoán là tính chính xác của nhận thức kiểm soát hành vi. Tầm quan trọng của ý định và nhận thức kiểm soát hành vi trong việc dự đoán hành vi sẽ khác nhau trong các tình huống khác nhau và giữa các hành vi khác nhau.
Cả ý định và kiểm soát hành vi đều có đóng góp đáng kể vào việc dự đoán hành vi, nhưng trong những tình huống cụ thể 11 khác nhau thì một nhân tố có thể quan trọng hơn nhân tố kia và trong thực tế thì có thể chỉ cần một trong hai nhân tố dự đoán. Lý thuyết hành vi dự định bao gồm ba khái niệm độc lập quyết định của ý định (Ajzen, 1991). Thứ nhất, đó là nhân tố thái độ đối với hành vi và mức độ mà một người có đánh giá hoặc đánh giá thuận lợi hay không về hành vi đang được nhắc đến. Nhân tố dự đoán thứ hai là một yếu tố xã hội được gọi là chuẩn mực chủ quan, đó là áp lực xã hội mà con người cảm nhận được thực hiện hoặc không thực hiện hành vi.
Tiền đề thứ ba của ý định là mức độ nhận thức kiểm soát hành vi, nghĩa là việc nhận thức dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, và nó cũng phản ánh kinh nghiệm trong quá khứ cũng như những trở ngại và khó khăn dự kiến. Nhìn chung thì thái độ và chuẩn mực chủ quan đối với một hành vi càng được tôn trọng thì khả năng nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn, và ý định thực hiện hành vi của cá nhân càng mạnh mẽ. Vai trò của thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và mức độ nhận thức kiểm soát hành vi trong việc dự đoán ý định là khác nhau giữa các hành vi và tình huống khác nhau. Vì vậy, trong một số bối cảnh có thể thấy được chỉ có thái độ đối với hành vi mới có tác động đáng kể đến ý định, ở trường hợp khác thì thái độ đối với hành vi, và mức độ nhận thức kiểm soát hành vi là đủ để giải thích cho ý định, và ở tình huống khác thì cả ba nhân tố đều có những đóng góp độc lập.
Lý thuyết hành vi dự định đã cung cấp một mô hình khái niệm hữu ích để giải quyết sự phức tạp của hành vi xã hội của con người. Ba nhân tố trong mô hình cho phép dự đoán và hiểu các hành vi cụ thể trong bối cảnh cụ thế. Đồng thời, TPB cũng đã dựa trên ba nhân tố là thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và mức độ nhận thức kiểm soát hành vi để đưa ra nền tảng cơ bản của niềm tin về hành vi. Ở cấp độ niềm tin, thì có các nhân tố đặc biệt có thể khiến một người quan tâm đến hành vi và thúc đẩy người khác thực hiện hành động theo một hướng khác.
Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) 2. Khái niệm nhận thức tính hữu ích Nhận thức tính hữu ích là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng công nghệ này giúp nâng cao hiệu suất công việc của mình (Davis, 1989, trang 320). Con người có ý định sử dụng hay không sử dụng ứng dụng phụ thuộc vào mức độ mà họ tin rằng nó sẽ giúp họ thực hiện công việc tốt hơn. Trong một tổ chức, con người có được hiệu suất công việc tốt thường biểu hiện qua việc tăng lương, thăng chức, thưởng đột xuất và những phần thưởng khác.
Và ở một mức độ cao hơn thì nhận thức tính hữu ích là điều mà người sử dụng tin rằng có mối liên hệ mật thiết giữa việc sử dụng công nghệ một cách hiệu quả và hiệu suất công việc. Khi người sử dụng nhận thức được y tế di động hữu ích thì họ sẽ thích sử dụng chúng hơn. Ngược lại, nếu người sử dụng nhận thức rằng y tế di động không hữu ích thì họ sẽ có xu hướng né tránh chúng. Nhận thức tính hữu ích trong y tế di động được định nghĩa là người sử dụng tin rằng ứng dụng y tế di động có thể giúp cải thiện sức khoẻ của họ (Davis, 1986).
Thêm vào đó, nhận thức tính hữu ích là nhân tố phổ biến nhất được sử dụng để dự đoán trong lĩnh vực y tế di động (Binyamin, 2021). Khái niệm nhận thức tính dễ sử dụng Nhận thức tính dễ sử dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng công nghệ này thì không cần phải bỏ ra sự nỗ lực nào (Davis, 1989, trang 320). Người sử dụng tin rằng nếu một ứng dụng thật sự hữu ích nhưng lại quá khó sử dụng và hiệu suất công việc cho việc sử dụng vượt quá nỗ lực của mình thì cũng ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ. Một ứng dụng mà dễ sử dụng hơn những ứng dụng khác thì sẽ được người sử dụng dễ dàng chấp nhận hơn.
Trong lĩnh vực y tế thì nhận thức tính dễ sử dụng được định nghĩa là người sử dụng tin vào việc sử dụng các ứng dụng y tế di động không phải là một nỗ lực đáng kể (Davis, 1986). Và trong khoảng 30 bài báo được phân tích thì nhận thức tính dễ sử dụng là yếu tố phổ biến thứ hai được sử dụng để dự đoán trong lĩnh vực y tế di động (Binyamin, 2021). Khái niệm ý định hành vi Ý định hành vi là mục tiêu hay kế hoạch thực hiện hành vi của mỗi cá nhân (Fishbein & Ajzen, 1975). Trong lĩnh vực y tế di động thì ý định hành vi thể hiện mục tiêu hay kế hoạch sử dụng công nghệ y tế di động.
Nhận thức tính hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng có tác động tích cực và là hai nhân tố chính yếu ảnh hưởng đến ý định hành vi (Davis, 1989). Ngoài ra, ý định hành vi được xác định bởi thời gian mong đợi, nỗ lực mong đợi và ảnh hưởng xã hội, ý định hành vi và tạo điều kiện thuận lợi để dự đoán hành vi thực sự (Venkatesh et al. Nhận thức tính hữu ích là nhân tố quan trọng để người sử dụng chấp nhận côgn nghệ trong y tế. Hay nói cách khác, nhận thức tính hữu ích có tác động tích cực và chính yếu nhất đến ý định hành vi trong lĩnh vực y tế di động (Kavandi H & Jaana M, 2020) , và nhận thức tính dễ sử dụng là nhân tố thứ hai.
Mô hình chấp nhận công nghệ Lý thuyết chấp nhận công nghệ được hình thành từ nửa sau của thế kỷ 20 bởi Davis, Bogozzi and Warshaw năm 1989, mô hình khá đơn giản và dễ hiểu nên được triển khai rộng rãi. Mô hình chấp nhận công nghệ được hình thành trên nền tảng của thuyết hành động hợp lý (Fishbein & Ajzen, 1975). Thuyết hành động hợp lý cho rằng ý định hành vi của cá nhân khi sử dụng một sản phẩm hoặc một dịch vụ được quyết định bởi thái độ của cá nhân đó và những tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi. Thuyết hành động hợp lý cũng cho rằng ý định hành vi có liên quan mật thiết đến hành vi thật sự.
Mô hình chấp nhận công nghệ tập trung vào các dạng của hành vi riêng biệt, một minh hoạ là sự chấp nhận công nghệ hợp lý bởi người sử dụng công nghệ (Davis, 1989). Có hai khái niệm liên quan trong mô hình chấp nhận công nghệ, đó là nhận thức tính hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng, đây là hai biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là ý định hành vi (King & He, 2006).