mở đầu cho thời kì văn minh. Gia đình này được hình thành trên cơ sở kết hôn của người đàn ông và đàn bà nhưng nó chặt chẽ hơn gia đình đối ngẫu là không được phép tùy ý li hôn. Điều này đảm bảo cho những đứa con được sinh ra xác định được cha đẻ và thừa kế tài sản của người cha. Như vậy là dù ở trong hình thức gia đình nào, vấn đề sinh con để duy trì nòi giống đều được đặt lên cao.
Đặc biệt khi kinh tế ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi việc sản sinh con người để đảm bảo nguồn lao động, và việc những đứa con trong gia đình được thừa hưởng tài sản của cha ông. Trong giai đoạn hiện nay, quy mô của gia đình ngày càng thu hẹp lại, những đứa con sinh ra ít hơn nhưng có điều kiện đảm bảo về chất lượng sống giúp nâng cao thể lực, trí lực và đạo đức. Nhưng vấn đề đặt ra bên cạnh đó là 16 z dân số đang ngày càng già đi, nguồn lao động giảm cả về số lượng và chất lượng. Ngoài ra hiện nay mô hình gia đình phi nam nữ, kết hôn đồng giới khiến cho chức năng sản sinh của gia đình đang bị thu hẹp lại.
Tỉ lệ số gia đình đồng giới, những hộ gia đình với tâm lý không muốn sinh con, mắc các chứng bệnh vô sinh cũng tăng cao khiến cho chức năng sinh sản giảm sút trong mỗi gia đình. Song chức năng sinh sản tái sản xuất ra con người vẫn là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng trong các chức năng của gia đình. Một gia đình muốn duy trì huyết thống, phát triển kinh tế, cân bằng nhu cầu tình cảm thì vấn đề tái sản xuất con người vẫn cần được tiến hành. Thứ hai: Chức năng kinh tế Chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng đối với gia đình trong sự tồn tại và phát triển của mình.Ăngghen khi nghiên cứu về con người đã nhận định rằng con người muốn tồn tại thì trước tiên phải được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như: ăn, ở, mặc… rồi mới có thể tiến tới làm chính trị, tôn giáo, nghệ thuật…và để có những tiền đề vật chất ấy, thì chỉ có thông qua những hoạt động xã hội để tạo ra.
Mà chủ yếu là thông qua hoạt động sản xuất vật chất thì con người mới tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Đồng thời qua đó con người sẽ tác động vào giới tự nhiên để phục vụ mục đích của bản thân, cải tạo và phát triển giới tự nhiên. Con người cần được thoả mãn các tiền đề vật chất để tồn tại, nhưng sự thoả mãn ấy không phải mang tính bản năng như loài vật “ Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [36, tr29]. Thêm vào đó hoạt động sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, sáng tạo ra con người “lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kì hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người” [38, tr73].
Để đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân, con người 17 z phải tiến hành sản xuất vật chất. Đồng thời với quá trình thỏa mãn nhu cầu của bản thân, sản xuất vật chất còn là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc tách con người ra khỏi thế giới loài vật, giúp con người thỏa mãn các nhu cầu tự nhiên một cách có ý thức. Trong quá trình lao động, con người không thể tiến hành một mình mà cần hoạt động theo những nhóm khác nhau. Chính lúc này đã thiết lập nên những mối quan hệ người khác nhau trong lao động, gia đình vì vậy cũng được coi là một nhóm lao động trong xã hội.
Ngay từ khi gia đình hình thành, việc sinh con cái nhiều không chỉ để duy trì nòi giống mà còn để tạo ra nguồn lao động để phục vụ cho nhu cầu sản xuất vật chất. Như vậy chức năng kinh tế luôn chiếm một vị trí quan trọng trong xây dựng và phát triển gia đình. Để thỏa mãn các nhu cầu sinh lý cơ bản của con người như: ăn uống, ở…cùng với đó là việc thỏa mãn các nhu cầu tâm lý thì con người cần tiến hành hoạt động kinh tế. Thực tế cho thấy, khi kinh tế gia đình không đủ đảm bảo các nhu cầu tâm sinh lý của con người sẽ dễ gây ra sự đổ vỡ trong gia đình.
Song bên cạnh đó có những hộ gia đình chỉ mải tập trung chăm lo kinh tế mà lơ là đi các chức năng khác trong gia đình như: tái sản sinh con người, giáo dục con cái, thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý của các thành viên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đạo đức và hạnh phúc gia đình giảm sút. Do vậy vấn đề phát triển kinh tế gắn với thực hiện hài hòa các chức năng khác chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống của mỗi gia đình. Thứ ba: Chức năng cân bằng tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Gia đình là cái nôi thân yêu để nuôi dưỡng bù đắp những thiếu hụt tình cảm của con người. Đây được coi là một trong những chức năng có tính văn hóa xã hội chiếm vị trí quan trọng trong xây dựng hạnh phúc gia đình.
Chỉ khi nào mỗi thành viên trong gia đình được thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu 18 z tâm sinh lý mới tạo ra sự hạnh phúc và bền vững của gia đình. Hơn nữa mỗi một con người lại đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý khác nhau. Do vậy, để đảm bảo sự cân bằng trong tâm sinh lý của con người đòi hỏi trong gia đình phải có sự điều chỉnh một cách hợp lý để phù hợp với giới tính, lứa tuổi, tính cách. Những căng thẳng trong quá trình sống bên ngoài gia đình như trong các mối quan hệ xã hội, công việc…chỉ có thể được xoa dịu trong gia đình.
Chính sự yêu thương ruột thịt, cảm thông, chia sẻ chân thành, việc đáp ứng các nhu cầu tâm lý, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình làm cho mỗi thành viên trở nên hạnh phúc hơn trong cuộc sống. Gia đình là môi trường tồn tại liên tục lâu dài đối với quá trình sinh và trưởng thành của một con người. Đây cũng là nơi diễn ra sự tiếp xúc tình cảm thường xuyên, trực tiếp và lâu dài của một con người. Sự yêu thương, quan tâm, động viên của các thành viên trong gia đình là động lực rất lớn cho trẻ trưởng thành và vững vàng trong mọi hoàn cảnh khó khăn.
Ngược lại với những đứa trẻ sống trong gia đình bị khiếm khuyết, bị những mặc cảm tâm lý do bố mẹ chia tay, bố mẹ sống không hạnh phúc, bạo lực gia đình, cha mẹ mải làm kinh tế quên trách nhiệm nuôi dạy con cái….khiến trẻ bị thiếu hụt về mặt tình cảm, ảnh hưởng xấu từ những khuynh hướng bạo lực của bố mẹ không thể trưởng thành lành mạnh, dễ vấp ngã trong cuộc sống. Do vậy mà môi trường tâm lý trong gia đình chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển tính cách, năng lực, tình cảm cá nhân, hòa nhập với cộng đồng để giúp hình thành và phát triển nhân cách con người hoàn chỉnh. Gia đình với những chức năng đặc thù của nó giữ một vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và định hướng nhân cách cho mỗi con người. Mỗi chức năng của gia đình đều có những vị trí, vai trò riêng nhưng đều có tác động qua lại hỗ trợ nhau trong xây dựng gia đình.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, các chức năng lại giữ vị trí và có nội dung thực hiện khác 19 z nhau để phù hợp với điều kiện xã hội. Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình gia đình mới có thể tồn tại và phát triển, đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Thứ tƣ: Chức năng giáo dục Giáo dục là quá trình giúp đối tượng học tập lĩnh hội được các tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng và chuẩn mực đạo đức cơ bản trong gia đình và xã hội để trẻ có thể tồn tại, phát triển. Chức năng giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách, tri thức, kỹ năng lao động, thể chất của một đứa trẻ.
Trẻ lớn lên không thể tự mình lĩnh hội tất cả các kiến thức và kĩ năng sống cần thiết nếu không có sự định hướng, truyền thụ của người lớn. Thực tế cho thấy những đứa trẻ tự mình trưởng thành không có sự dạy bảo từ phía gia đình thường không thể phát triển hoàn thiện về mọi mặt. Do vậy giáo dục từ phía gia đình đối với quá trình phát triển của trẻ từ lúc sinh ra đến trưởng thành chiếm một vị trí rất quan trọng. Có thể hiểu giáo dục gia đình là quá trình chủ thể (ông bà, cha mẹ, anh chị…) thông qua các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng giáo dục (cháu, con cái, em…) giúp hình thành và phát triển năng lực phẩm chất nhân cách phù hợp với những mục tiêu đặt ra.
Chức năng này của gia đình được thực hiện trên cả bình diện thể lực, trí lực, đạo đức cho trẻ. Về chức năng giáo dục đạo đức: Giáo dục đạo đức của gia đình là quá trình chủ thể giáo dục (ông bà, cha mẹ, anh chị.) sử dụng biện pháp giáo dục mang nét đặc trưng riêng có của gia đình là tình cảm với nội dụng phong phú tác động đến đối tượng giáo dục (cháu, con, em), với mục đích nhằm xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm đạo đức, rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức góp phần định hướng phát triển nhân cách của trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành. 20 z Ý thức đạo đức là một hình thái ý thức quan trọng của xã hội bao gồm toàn bộ những “quan niệm, tri thức, và các trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng…và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” [42, tr374].