CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUẨN MỰC IFRS ĐẾN CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC NHTM 1. Tổng quan về chuẩn mực IFRS 1. Lịch sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế Giai đoạn (1973-2000) Năm 1973, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập tại Úc với sự tham gia của các quốc gia bao gồm: Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Anh, Ireland và Hoa Kỳ. IASC là tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ nhằm phát triển sự thống nhất trong các chuẩn mực kế toán sẽ được sử dụng trên toàn thế giới.
Ngoài ra, tiêu chuẩn IASC đầu tiên về tính minh bạch của chính sách kế toán được ban hành vào tháng 1 năm 1975. Năm 1977, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) được thành lập với mục đích xây dựng nghiệp vụ kế toán trên toàn thế giới. IFAC là đại diện quốc tế về nghề nghiệp kế toán, chịu trách nhiệm tạo ra các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế chất lượng cao, phát triển và thực hiện đạo đức - đào tạo kế toán chuyên nghiệp, thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên với các tổ chức quốc tế. Đến năm 1987, IASC đã ban hành 25 tiêu chuẩn IAS bao gồm các vấn đề khác nhau.
Bởi vì các chuẩn mực đó được chắt lọc của nhiều chế độ kế toán khác nhau trên toàn thế giới nên sẽ có nhiều lựa chọn áp dụng cho hạch toán một nghiệp vụ. IASC và Tổ chức Quốc tế về Ủy ban Chứng khoán (IOSCO, trong đó SEC là thành viên) đã nhất trí về những tiêu chuẩn cốt lõi của hệ thống chuẩn mực quốc tế và tiến hành dự án để hoàn thành năm 1999. IOSCO đã đồng ý rằng nếu các chuẩn mực hợp lí thì IOSCO sẽ khuyến nghị cho thực hiện chuẩn mực quốc tế cho mục đích sử dụng vốn đầu tư nước ngoài và niêm yết quốc tế. Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các bộ trưởng tài chính G7 và các bộ trưởng khác đã kêu gọi hoàn thiện nhanh chóng và áp dụng toàn cầu các tiêu chuẩn kế toán quốc tế chất lượng cao.
Giai đoạn 2000 đến nay Năm 2001, tổ chức kế toán quốc tế IASB mới được thành lập có nhiệm vụ ban hành các chuẩn mực thay thế cho IASC. Đồng thời IASC Foundation - Ban tổ chức chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập nhằm giám sát các hoạt động, chiến lược và ngân sách cho IASB. IASB ra đời với 2 nhiệm vụ chính là tạo lập một hệ thống các chuẩn mực báo cáo tài chính toàn cầu, đồng thời, đáp ứng nhu cầu thông tin trung thực, hợp lí cho 13 các nhà đầu tư để đưa ra quyết định phù hợp. Trong hơn một thập kỉ, đã có 14 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được ban hành, sửa đổi và bổ sung.
Trong đó năm 2010, khuôn mẫu lý thuyết cho việc chuẩn bị và trình bày BCTC quốc tế (IFRS Framwork) được ban hành. IFRS ngày càng được mở rộng và nâng cao vị thế trên trường quốc tế, thêm vào đó, Liên minh châu Âu (EU) đã thông qua luật yêu cầu tất cả các công ty niêm yết phải lập báo cáo tài chính hợp nhất của họ bằng IFRS bắt đầu từ năm 2005, trở thành thị trường vốn lớn đầu tiên yêu cầu IFRS. Trong đó quyết định giảm thiểu chuẩn mực về công cụ tài chính, tạo ra một chuẩn mực IFRS của Châu Âu. Cuộc tham khảo ý kiến mới nhất của IASB trên 81 quốc gia, gồm cả các nền kinh tế lớn như G-20 và 61 quốc gia khác về việc tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc tế.
Kết quả cho thấy 14/20 nước của G-20 yêu cầu hoàn toàn áp dụng chuẩn mực BCTC trên thị trường vốn quốc tế. Ngoài ra, một nhóm các nước Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Indonesia cho phép áp dụng với phạm vi hạn chế. Thêm vào đó, dữ liệu khẳng định 70/81 quốc gia cho phép áp dụng tất cả hoặc một phần của tiêu chuẩn BCTC quốc tế, song chỉ 3 quốc gia trong dữ liệu trên là gần như hoàn toàn sử dụng tiêu chuẩn quốc tế (Hồng Kông, Australia và New Zealand) và 27 nước thuộc EU tuân thủ các tiêu chuẩn BCTC quốc tế cho các công ty niêm yết và một số tổ chức ngoại lệ (IASB, 2013). Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) là sự thay đổi quan trọng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính và là thay đổi về chuẩn mực kế toán lớn nhất trong thời đại, trở thành ngôn ngữ kế toán chung phổ biến nhất trên toàn cầu.
Tại sao chuẩn mực kế toán của các quốc gia có sự khác biệt Epstein và Mirza (2003) giải thích chuẩn mực kế toán quốc gia khác nhau là do môi trường pháp lý các quốc gia có thể chia thành nhóm có chung tập quán luật và các quốc gia có truyền thống luật lệ (thông luật). Các quốc gia có thông luật như Anh, Hoa Kỳ và các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi Vương quốc Anh có xu hướng không xác định các yêu cầu về BCTC trong luật pháp quốc gia và các mục tiêu của báo cáo tài chính thường khác với các mục tiêu của chính sách thuế quốc gia. Trong khi đó, các quốc gia có luật mã như Bộ luật Napoleon có xu hướng hợp pháp hóa các quy định kế toán và BCTC. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính còn phụ thuộc vào chính sách thuế của từng quốc gia và một số nhân tố kinh tế có tác động đến sự thay đổi trong các mô hình kế toán và phương pháp ghi nhận.
Một vài nhân tố trong số đó là: 1. Mức độ tập trung hóa trong nền kinh tế: tức là từ sự kiểm soát của nhà nước sang tự do kinh doanh. Các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ít tập trung vào 14 việc phát triển các mô hình báo cáo tài chính, còn đối với các nhà hoạch định kinh tế thì hiệu quả kinh tế không phải là mối quan tâm hàng đầu. Mặt khác, các quốc gia thuộc nền kinh tế tự do kinh doanh như Anh và Hà Lan đã sớm có nhu cầu về báo cáo tài chính có ý nghĩa.
Bản chất của hoạt động kinh tế: nền kinh tế nông nghiệp giản đơn khác nền kinh tế phức tạp. Giai đoạn phát triển kinh tế. Mô hình và tốc độ tăng trưởng kinh tế: từ một quốc gia có nền kinh tế trì trệ chuyển bước thành quốc gia tăng trưởng bùng nổ. Tính ổn định của đồng nội tệ hoặc kinh nghiệm lạm phát của nền kinh tế trong nước.
Alexander và Archer (2003) đã trích dẫn bốn nguyên nhân của sự khác biệt lịch sử trong chuẩn mực kế toán của các nước, như sau: 1. Tầm quan trọng tương đối của pháp luật. Đối với các quốc gia Anglo- Saxon, luật chỉ quy định những nguyên tắc chung, trong khi, trong truyền thống luật La Mã bao gồm các điều khoản chi tiết hơn. Áp đặt và linh hoạt.
Một số quốc gia có xu hướng áp đặt quy định trong khi những quốc gia khác thì linh hoạt trong việc áp dụng quy định. Việc áp đặt được thực hiện theo luật hoặc bởi các cơ quan kế toán chuyên nghiệp. Tính linh hoạt là cách mà từng chuyên gia xử lý một tình huống, đặc biệt là có thể chọn cách thực hiện thích hợp trong khuôn khổ luật đã được trình bày. Tổ chức tài chính.
Các quốc gia khác nhau có tổ chức tài chính khác nhau về cấu trúc và cách thức huy động vốn và kế toán sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp với các nguồn tài chính chi phối trong nước. Đối với các tổ chức tập trung vào cổ đông thì mối quan tâm là lợi nhuận và báo cáo doanh thu - chi phí, từ đó yêu cầu minh bạch và trung thực hơn về thông tin kế toán. Mặt khác, đối với các quốc gia có lĩnh vực ngân hàng hoạt động với tư cách là nhà cung cấp quỹ thì đặt sự tập trung vào các chủ nợ, sự thận trọng sẽ thể hiện qua chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán. Ảnh hưởng của thuế: Một số quốc gia cho phép các chi phí được khấu trừ thuế chỉ khi tính toán số liệu thuế giống hệt với các tính toán trong tài liệu đã xuất bản BCTC.
Sự cần thiết của chuẩn mực kế toán quốc tế IAS nhằm mục đích nâng cao khả năng so sánh của các báo cáo tài chính bằng cách giảm chênh lệch kế toán quốc gia, nhằm đạt được sự đồng nhất về nội dung và cách tiếp cận. (2005) trình bày ba lý do chính về sự cần thiết phải có IAS, đó là: (a) việc thực hiện kế toán và kiểm toán chất lượng ở một quốc gia là một thành phần làm tăng cường công tác quản trị, (b) các chuẩn mực kế toán và kiểm toán là các yếu tố tạo nên tính hiệu quả của báo cáo tài chính quốc tế, (c) có mối liên hệ chặt chẽ giữa các chuẩn mực kế toán và tài chính doanh nghiệp. Chuẩn mực Kế toán và Quản trị Nhiều ý kiến cho rằng việc nghiên cứu các chuẩn mực kế toán bắt nguồn từ trong khái niệm quản trị. Theo đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các thỏa thuận trong quản trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trong một quốc gia và đồng thời một trong những thành phần quan trọng của quản trị là chất lượng của các thông lệ kế toán và kiểm toán.
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB,2002) về thực tiễn Kế toán và Kiểm toán các nước thành viên đang phát triển đã trích dẫn rằng: các chuẩn mực kế toán và kiểm toán của một quốc gia sẽ (a) thu hút đầu tư (b) hỗ trợ phát triển thị trường tài chính (c) giảm phần bù rủi ro quốc gia (d) cải thiện kết quả tư nhân hóa và (e) giảm rủi ro khủng hoảng tài chính. Về mặt chất lượng, theo khảo sát từ các nhà đầu tư toàn cầu về Quản trị Doanh nghiệp, McKinsey & Co. (2002) lưu ý rằng trong số 200 nhà đầu tư, tổ chức tham gia khảo sát đến từ Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì có tới hơn một phần ba trong đó sẽ hạn chế đầu tư vào các quốc gia có nền quản trị kém. Cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng các chuẩn mực kế toán, đặc biệt là thuyết minh kế toán và việc sử dụng IAS ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của nhà đầu tư.
Hoạt động kế toán và kiểm toán chất lượng cao hơn có liên quan tích cực đến phát triển thị trường tài chính (Francis, et al.