phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương. Một số vấn đề chung về hình thức hợp tác Hành lang, vành đai kinh tế Chương 2. Thực trạng hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung” Chương 3. Tác động của hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” tới quan hệ thương mại Việt – Trung.
Một số gợi ý về giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt - Trung thông qua hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THỨC HỢP TÁC HÀNH LANG, VÀNH ĐAI KINH TẾ 1.1 Khái niệm Hành lang kinh tế và Vành đai kinh tế Trên thế giới hiện nay có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu là chính thức và không chính thức. Cơ chế chính thức bao gồm những hình thức như Khu mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (kiểu liên minh Nga – Belarus…), Thị trường chung (kiểu liên minh châu Âu EU); Cơ chế phi chính thức gồm các hình thức như tam giác phát triển, khu vực tự do xuyên quốc gia, hành lang kinh tế, vành đai kinh tế. Cơ chế phi chính thức có một số đặc thù như chỉ bao gồm các vùng (địa phương) thuộc các nước khác nhau, không bao gồm thực thể quốc gia; các thành viên duy trì quan hệ thương mại và đầu tư với thị trường bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất, nhưng gián tiếp cắt giảm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do hóa thương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư, thúc đẩy sự phát triển tại khu vực biên giới của các nước thành viên.
Từ điển Anh ngữ Webster giải thích: Hành lang là (1) đường đi nối giữa các phòng, (2) Đường giao thông (tuyến đường), chỉ (a) vùng đất nhỏ hẹp xuyên qua lãnh thổ nước ngoài hoặc (b) tuyến đường hàng không, chịu sự quản lý; (3) Vùng đất bao gồm hai hoặc nhiều thành phố mật độ dân cư đông đúc. Cambridge, từ điển Anh ngữ của của Mỹ chia trực tiếp thành hai loại “Đường qua lại” và “khu vực”, (1) Đường qua lại một bên hay hai bên của công trình xây dựng, toa tầu, tàu thủy, (2) Khu vực nhỏ hẹp nằm giữa hai hay nhiều thành phố lớn, hoặc khu vực sầm uất ven đường quốc lộ. Hành lang 7 kinh tế được nhắc đến ở đây thuộc nghĩa là khu vực (hành lang) mang ý nghĩa địa lý kinh tế theo ý thứ 2. Khái niệm “Hành lang kinh tế” do Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 8 về hợp tác tiểu vùng sông Mekong tại Manila tháng 9 năm 1998 đưa ra, nêu rõ: Hành lang kinh tế là một tuyến liên kết kinh tế dựa vào địa lý giữa các vùng lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia bởi các chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng liên kết.
Trong kỉ yếu và tuyên bố chung của Hội nghị đều nói tới hàm nghĩa và nội dung của “Hành lang kinh tế”. Trong tuyên bố chung, “Hành lang kinh tế” là cơ chế hữu cơ liên kết giữa sản xuất, thương mại và đầu tư, là “con đường liên kết giữa sản xuất, thương mại và cơ sở hạ tầng trong khu vực địa lý đặc biệt”. Từ cách hiểu về hành lang kinh tế nêu trên, có thể thấy rõ hành lang kinh tế vốn xuất phát từ hành lang giao thông, lấy hạ tầng giao thông làm cơ sở, để kết nối các khu vực địa lý của một hay nhiều quốc gia với nhau nhằm phát triển kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của các khu vực địa – kinh tế nằm trên cùng một dải dọc theo trục giao thông nhất định. Hành lang kinh tế là khu vực, lãnh thổ của một nước này liên kết với khu vực, lãnh thổ của một nước khác nhờ có chung một trục giao thông nhằm tận dụng, khai thác và vận hành trục giao thông chung này để phát triển kinh tế giữa 2 quốc gia và xa hơn là mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế giữa các quốc gia.
Hành lang kinh tế sẽ không thể hình thành nếu các khu vực địa lý hay vùng lãnh thổ của hai nước không có chung một trục giao thông. Vành đai là từ thuần Việt, theo từ điển tiếng Việt chỉ vùng đất bao quanh một khu vực. Khái niệm “Vành đai kinh tế” chưa được chính thức đưa ra trong giới học thuật nhưng có thể hiểu nó được tạo nên dựa theo điều kiện địa lý. Vành đai kinh tế là liên kết kinh tế theo hình vòng cung hoặc vòng tròn bao quanh một khu vực, một vùng địa lý - lãnh thổ trên cơ sở nối liền các 8 vùng lãnh thổ của một hay nhiều quốc gia với mục đích liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh cúa các khu vực địa – kinh tế nằm trên cùng một dải tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và liên kết kinh tế giữa các vùng bên trong vành đai.
Vành đai kinh tế có điểm giống và khác với hành lang kinh tế. Điểm giống nhau cùng là sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các vùng lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia nhằm mục đích khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh. Cũng như việc hình thành các hành lang kinh tế, sự hình thành của vành đai kinh tế phải dựa trên những điều kiện khách quan và chủ quan, điều kiện cần và đủ đến độ chín muồi nhất định. Điểm khác nhau ở chỗ hành lang kinh tế là tuyến liên kết theo trục giao thông, nối giữa các điểm - đầu cuối và giữa của sự liên kết kinh tế, động lực của hợp tác hành lang là các điểm nhấn (tỉnh, thành phố) nằm theo trục giao thông.
Còn vành đai kinh tế là tuyến liên kết theo hình vòng cung hoặc vòng tròn bao quanh một khu vực, động lực của hợp tác vành đai là tâm điểm nằm ở giữa. Liên kết vành đai kinh tế có thể theo các đường tự nhiên như đường biên giới, đường bờ biển, đường bờ vịnh, cũng có thể liên kết theo các đường nhân tạo và trên thực tế thường có hình vòng cung. Nếu như yếu tố quyết định đối với hành lang kinh tế phải là những tuyến giao thông huyết mạch đủ lớn, thì với vành đai kinh tế là những trung tâm kinh tế đã phát triển ở mức cần thiết (hoặc dự kiến được xây dựng với quy mô đủ lớn) nằm trên vành đai. Hành lang kinh tế và vành đai kinh tế ngoài những đặc điểm tương tự với các hình thức hợp tác kinh tế phi chính thức khác, có 3 điểm khác biệt: 1- Là một khu vực địa lý xác định; 2- Nhấn mạnh các sáng kiến song phương hơn là các sáng kiến đa phương; 3- Đòi hỏi phải có sự quy hoạch không gian và vật lý cụ thể để tập trung phát triển hạ tầng và đạt được những hiệu quả thiết thực nhất.2 Hành lang kinh tế, vành đai kinh tế và tác động lan tỏa tới phát triển kinh tế Hành lang kinh tế và vành đai kinh tế là biện pháp hợp tác mới để thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế của các quốc gia và lãnh thổ.
Hành lang kinh tế vốn xuất phát và phát triển từ hành lang giao thông, nó vượt qua nội dung đơn thuần là đường giao thông, mà lấy xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông làm cơ sở, kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế, thương mại và đầu tư ở khu vực địa lý nhất định, hình thành nên hợp tác kinh tế tổng hợp lấy xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông làm trung tâm. Có thể hiểu rằng đó là cơ chế nhất thể hóa kinh tế khu vực nhỏ lấy giao thông làm trục chính. Hành lang kinh tế thể hiện mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa phát triển hệ thống hạ tầng giao thông với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hệ thống các tuyến đường giao thông là tiền đề, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội ở các vùng miền liền kề của các trục tuyến giao thông đó.
Hệ thống đường giao thông phát triển đến đâu, khả năng phát triển kinh tế xã hội có thể được mở rộng đến đó. Cũng có nghĩa là mức độ hiện đại hóa của hệ thống hạ tầng giao thông sẽ góp phần làm thay đổi cả tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển ở các vùng lân cận. Xây dựng vành đai kinh tế không những phát triển được kinh tế của những vùng nằm trên vành đai mà còn góp phần phát triển cả những vùng xung quanh qua việc thúc đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Các học giả Vân Nam hoàn thành báo cáo nghiên cứu trong dự án năm 2002 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP “Thúc đẩy kế hoạch 5 năm hợp tác kinh tế sông Lan Thương - tiểu vùng sông Mekong” đã dựa trên tính vận hành của hành lang kinh tế chỉ rõ: “Hành lang kinh tế với căn cứ là các thành phố có không gian kề cận, với cầu nối là đường sắt, đường bộ, đường thủy, và hàng không, điểm nối là các đô thị vừa và nhỏ dọc theo, với cơ sở là lưu thông người hàng hóa, thông tin, vốn và năng lượng, triển 10 khai hợp tác và phát triển mậu dịch, đầu tư, ngành nghề nông nghiệp, khoáng sản và công nghiệp kiểu mới, du lịch giao thông và ngành dịch vụ…xây dựng nhóm ngành nghề ưu thế, hệ thống đô thị, hệ thống cửa khẩu và khu vực hợp tác kinh tế biên giới trong tầm ảnh hưởng tuyến giao thông chính, thực hiện tối ưu hóa phân phối các yếu tố tài nguyên và sức lao động, để hình thành các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế, mang tính khu vực, hỗ trợ ưu thế, phân công khu vực, khai thác thị trường cùng phát triển” [9].