đặt vấn đề nghiên cứu HTKT trong mối quan hệ với 2 biến chuyển đời sống KT-XH chưa có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu trước đây. Đặc biệt là nghiên cứu về đô thị loại 4 như thị trấn Cai Lậy (cũ) tương ứng các phường 1, 2, 4, 5 của TX Cai Lậy hiện nay, trong đó tác giả chọn nghiên cứu tại phường 4 vì sự biến chuyển đời sống KT-XH khá rõ nét. Từ thực tế hiện nay nhiều đô thị ở nước ta bộc lộ những yếu kém HTKT gây hệ quả của tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm khói bụi gây lãng phí thời gian lao động và nhiều hệ lụy khác làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, tình trạng quá tải xử lý rác thải, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước do mưa lớn và triều cường đã tác động trực tiếp đến đời sống người dân.
Những tồn tại, hạn chế này do sự phát triển chưa đồng bộ, chưa đảm bảo tính khoa học hoặc chưa đảm bảo mức độ đầu tư hợp lý. Thiết nghĩ, việc khai thác tri thức trong lĩnh vực HTKT để bổ sung kiến thức vào quản lý ở địa phương góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị theo hướng hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững sẽ tác động lớn đến lợi ích KT-XH của cộng đồng dân cư, là vấn đề mang tính cấp thiết của các đô thị ngày nay. Minh chứng gần đây, tại Hội thảo với chủ đề “Định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn tại vùng đồng bằng sông Cửu Long”, bà Mai Thị Liên Hương, Cục trưởng Cục HTKT thuộc Bộ Xây dựng đã khẳng định rằng: một số đô thị đang phải đối mặt với tình trạng không đồng bộ, quá tải về hạ tầng như tình trạng thiếu kết nối, ùn tắc về giao thông, hệ thống cấp nước bị nhiễm mặn, thoát nước còn tình trạng ngập úng cục bộ, còn thiếu công trình xử lý nước thải, rác thải,. (Báo điện tử của Bộ Tài nguyên và môi trường, 2020) Về mặt lý luận, đầu tư xây dựng đường giao thông và HTKT đã góp phần làm thay đổi đời sống KT-XH của cộng đồng dân cư, đó chính là tác động biến chuyển theo hướng tích cực nhưng đồng thời cũng bao gồm cả những tác động tiêu cực.
Nhưng để có thể đánh giá khách quan HTKT trong phát triển đô thị tại TX Cai Lậy, tác giả xin chọn thực hiện luận văn với tựa đề sau: “Tác động của các công trình HTKT đến sự biến chuyển đời sống KT-XH của người dân ở Tiền Giang giai đoạn 2008 – 2018 (nghiên cứu tại phường 4 – thị xã Cai Lậy – tỉnh Tiền Giang)” để làm công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Đô thị học. Tổng quan tình hình nghiên cứu Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nội dung của luận văn, điểm luận các đề tài, công trình nghiên cứu theo cách phân loại sau: Về đô thị hóa và HTKT: Đầu tiên phải kể đến tác giả Phạm Trọng Mạnh của sách về Quản lý hạ tầng kỹ thuật, đã khái quát vấn đề quản lý cơ sở HTKT; cơ cấu tổ chức quản lý; hệ thống thông tin quản lý; việc lập kế hoạch quản lý; sự hình thành các dịch vụ và khai thác các dịch vụ cơ sở HTKT; kế hoạch về ngân sách và vốn để đầu tư xây dựng; quản lý nguồn nhân lực trong hệ thống cơ sở HTKT (Phạm Trọng Mạnh, 2006). Từ những nghiên cứu lý luận, tác giả đã mang lại cách nhìn tổng quan, phân tích các vấn đề HTKT đi từ thực tiễn đến lý luận một cách cụ thể tại địa bàn nghiên cứu. Kế đến là quyển sách Kỹ thuật hạ tầng đô thị của nhóm tác giả do Bùi Khắc Toàn chủ biên, Trần Thị Hường và Vũ Hoàng Điệp tập trung vào 4 vấn đề thuộc về hệ thống công trình HTKT gồm: hệ thống giao thông, công tác chuẩn bị kỹ thuật khu đất xây dựng, hệ thống cấp nước và hệ thống thoát nước (Bùi Khắc Toàn, Trần Thị Hường và Vũ Hoàng Điệp, 2013).
Tương tự như thế còn có sách Hạ tầng kỹ thuật đô thị cũng của nhóm tác giả do Trần Minh Phụng chủ biên, Nguyễn Duy Liêm và Lê Minh Quang. Sách cung cấp kiến thức cơ bản về giao thông đô thị, cấp thoát nước, công trình cầu, công trình đường, công trình ngầm, công trình cây xanh, công trình chiếu sáng, nhìn bao quát về các công trình HTKT về mặt nhiệm vụ, cấu tạo, chức năng, từ đó có thể so sánh, đánh giá tính khả thi của từng công trình và vận dụng thiết kế được một số công trình HTKT đơn giản. (Trần Minh Phụng, Nguyễn Duy Liêm và Lê Minh Quang, 2018) Kế tiếp là sách Hình thành và phát triển bền vững giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện bởi Khoa Đô thị học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và Sở Giao thông vận tải TP.HCM chịu trách nhiệm bản quyển với các bài viết như: “Cơ hội và thách thức cho phát triển hệ thống cơ sở hạ 4 tầng kỹ thuật TP.HCM trong quá khứ, hiện tại và tương lai” của Nguyễn Văn Kích (tr. 35-69); “Bàn luận về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại TP.HCM” của Nguyễn Văn Hiệp (tr.
246-259); “Phát triển hạ tầng đô thị thông qua tài trợ từ đất: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại TP.HCM” của Huỳnh Thế Du (tr. 304-336); “Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông ở TP.HCM nhìn từ khía cạnh đặt đổi tên đường ở huyện Củ Chi, TP.HCM” của Trương Hoàng Trương (tr. 356-366); “Đường giao thông với phát triển không gian KT-XH” của Phan Chánh Dưỡng (tr. 386-397) và “Tác động của giao thông vận tải đến phát triển KT-XH và giảm nghèo tại TP.HCM” của Nguyễn Kim Hoàng và Sơn Thanh Tùng (tr.
Còn có, “Những con đường làm thay đổi con người và những vùng đất ở phía Nam TP. 346-355) của Nguyễn Huy Minh Quang viết đã khẳng định tác động của đường giao thông tốt làm biến đổi đời sống: Có một sự thật là bất cứ nơi nào dù xa xôi hẻo lánh, lạc hậu nghèo đói nhưng một khi có đường giao thông tốt, xe hơi đến tận nơi thì nhất định nơi đó đời sống sẽ thay đổi. Con người nơi ấy được kết nối với những vùng miền khác nhau, được tiếp cận nhanh hơn với đời sống văn minh và kinh tế hàng hóa. Chính vì điều này mà nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã chủ trương là phải xây dựng cho được “điện, đường, trường, trạm, chợ” ở các thôn ấp, làng bản để cải thiện đời sống cho nhân dân.
346) (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và Sở Giao thông vận tải TP.HCM, 2015) Cùng chủ để HTKT, về hệ thống giao thông có sách Quy hoạch mạng lưới giao thông đô thị tác giả Vũ Thị Vinh, sách cung cấp những kiến thức cơ bản về quy hoạch mạng lưới giao thông đô thị bao gồm: đường sắt, đường thủy, đường hàng không, đường bộ, trong đó chú trọng việc thiết kế quy hoạch mạng lưới đường bộ trong đô thị. Vũ Thị Vinh cho rằng: giao thông đô thị có ảnh hưởng gần như quyết định đến việc bố trí chỗ ở, làm việc, nghỉ ngơi và phục vụ sinh hoạt hằng ngày của người dân. Ngoài ra, trong đô thị hệ thống HTKT như cấp nước, thoát nước, cấp điện, cấp khí đốt, thông tin liên lạc đều được bố trí ở đường, vì vậy ngoài chức năng giao thông, đường đô thị còn là nơi đặt các hệ thống HTKT và nơi nào có đầu tư HTKT 5 tốt nơi ấy sẽ thu hút đầu tư nhiều hơn và do vậy hệ thống giao thông đô thị quan trọng đến mức được ví như bộ khung hay hệ thống huyết mạch của cơ thể con người (Vũ Thị Vinh, 2005). Tác giả cho rằng HTKT luôn luôn mang tính gắn kết với nhau trong hệ thống các công trình đồng thời tác động đến đời sống con người.
Cùng đề tài trên, sách Giao thông đô thị và quy hoạch đường phố của Lâm Quang Cường là công trình nghiên cứu ra đời trước, nội dung đã đề cập đến những vấn đề giao thông đô thị là mối quan tâm của mọi người, là huyết mạch của đô thị đòi hỏi tạo ra tính hợp lý và biện pháp tổ chức sử dụng trong thời gian dài nhằm phục vụ đời sống, đảm bảo nhanh chóng an toàn tiện lợi. Sách là kết quả các bài giảng, nghiên cứu trong và ngoài nước gồm 2 phần chính là giao thông đô thị và quy hoạch đường phố. Trong sách có hướng dẫn người đọc cách xác định số lần đi lại của dân cư, tức là số lần đi lại trung bình cho một người dân thành phố thực hiện trong 1 năm, nói chung cần xét đến cơ cấu xã hội của dân cư và các yếu tố ảnh hưởng khác như quy mô đất đai, quy mô dân số, quy hoạch thành phố, vị trí các điểm nghỉ ngơi – giải trí, mức độ phục vụ giao thông, hay mức sống của cư dân, quy mô thành phố càng lớn thì số lần đi lại bằng giao thông càng lớn. Đoạn đường đi càng xa thì xác suất sử dụng giao thông càng lớn.
Số lần đi lại của cư dân còn chỉ ra sức hút đối với lao động trong đô thị, nơi của những xí nghiệp, trung tâm thành phố (Lâm Quang Cường, 1993). Có thể thấy rằng giao thông đi lại tạo ra sự biến chuyển trong đời sống KT-XH của người dân. Bên cạnh đó, quyển Giáo trình cấp thoát nước của Hoàng Nhuệ được xem là tài liệu tham khảo hữu ích cho các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật công tác trong lĩnh vực cấp, thoát nước. Giáo trình đề cập đến các vấn đề như mạng lưới cấp nước, mạng lưới thoát nước (Hoàng Nhuệ, 1993).
Tác giả lấy nghiên cứu làm cơ sở để tham khảo, đối chiếu, đánh giá HTKT về cấp, thoát nước tại địa bàn nghiên cứu. Bên cạnh đó, sách Ngập lụt và nhà ở tại các đô thị Châu Á – kinh nghiệm cho TP.HCM, tập hợp các bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước về ngập lụt đô thị và phát triển bền vững, nhà ở đô thị và những tác động xã hội. Trong đó, có bài viết “Sự tăng trưởng dân số, phát triển đô thị và tình hình lũ lụt ở thủ đô Phnom Penh” của Long Saravuth, đã trình bày những vấn đề HTKT không theo kịp tiến trình đô thị hóa ở thủ đô Phnom Penh 6 và những vấn nạn về môi trường và xã hội, nghèo đói và nguy cơ lũ lụt, như những công trình phòng chống lũ và hệ thống thoát nước đô thị.