Chương 1 là phần giới thiệu đề tài. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu. Chương 3 mô tả địa điểm nghiên cứu, thiết kế khảo sát. Mô hình kinh tế lượng và giải thích các biến cũng sẽ được trình bày trong chương 3.
Ở chương 4, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày cùng với một số thảo luận. Cuối cùng, trong chương 5, một số kết luận sẽ được đưa ra dựa trên các kết quả của nghiên cứu này. 4 Chương 2: TỔNG QUAN 2.1 Khảo lược lý thuyết: 2.1 Các khái niệm về giáo dục/vốn con người: Theo từ điển kinh tế, vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hóa đầu tư được sử dụng vào kinh doanh mang lại lợi ích. Theo nghĩa này, vốn là vốn hữu hình.
Theo Trần Lê Hữu Nghĩa (2008), trước kia, các nhà kinh tế thường quan tâm đến ba yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất là đất đai, nhân công và vốn. Vào những năm 1960, người ta bắt đầu quan tâm hơn đến trình độ giáo dục của công nhân. Ý tưởng vốn con người lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1961 bởi Thedore Schultz. Thuật ngữ vốn con người được định nghĩa như là một tổ hợp tất cả những khả năng bẩm sinh và những kỹ năng, kỹ xảo tích lũy được thông qua việc học.
Tuy nhiên, trong kinh doanh nó được hiểu hẹp hơn: chỉ bao gồm những kỹ năng, kỹ xảo có liên quan trực tiếp đến sự hình thành của đơn vị sản xuất. Hiểu theo nghĩa hẹp này có thể nói nguồn vốn con người bị đánh đồng với khả năng nhận thức (cognitive abilities) hình thành chủ yếu từ giáo dục chính quy (formal training); vì thế, nó trở thành một định nghĩa không đầy đủ. Trường phái kinh tế học cổ điển cho rằng vốn con người là một tấm hộ chiếu kinh tế. Nhà kinh tế học Gary Becker (1962) khẳng định: học vấn, đào tạo, kỹ năng và thậm chí cả sức khỏe của con người tạo nên khoảng 75% sự giàu có của một nền kinh tế.
Không phải kim cương, nhà cửa, dầu mỏ hay ngân quỹ mà chính những thứ chúng ta đang có trong đầu mới là vốn quý. Becker đã nói: “Đúng ra, chúng ta nên gọi nền kinh tế là “nền kinh tế vốn con người” vì vốn con người là yếu tố trung tâm của nền kinh tế” (Trích theo Charles Wheelar, 2002). 5 Tất cả các loại hình vốn - vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người đều quan trọng, nhưng vốn con người là quan trọng nhất. Trên thực tế, trong một nền kinh tế hiện đại, vốn con người là hình thức vốn quan trọng nhất tạo ra của cải và sự tăng trưởng.
Theo Jacob Mincer (1974), giáo dục và đầu tư được thiết kế như là hai yếu tố chính của vốn con người. Vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người. Vốn con người đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Lasse Krantz (2001) cho rằng vốn con người bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khỏe tốt là những khả năng vật lý quan trọng cho việc theo đuổi thành công các chiến lược sinh kế khác nhau.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2001) định nghĩa “vốn con người là kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính tiềm tàng trong mỗi cá nhân” (Trích theo Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008). Kiến thức, kỹ năng và năng lực được kết tinh từ giáo dục dưới nhiều hình thức: học chính quy ở trường hoặc các khóa vừa học vừa làm (formal learning), không chính quy ở nơi làm việc (non– formal learning), thậm chí chỉ thông qua việc suy gẫm những điều vừa xảy ra để rút kinh nghiệm cho những lần tới (self–reflection). Những kỹ năng và phẩm chất sau đây là hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn vốn con người: i) Khả năng giao tiếp bao gồm khả năng đọc, viết, nghe, nói không chỉ bằng tiếng mẹ đẻ mà bao gồm cả ngoại ngữ, ii) Khả năng số học, hay là những kỹ năng đòi hỏi tính logic của toán học, và iii) Khả năng tự thấu hiểu, điều chỉnh chính bản thân mình như sự kiên trì, sự tiên phong, khả năng tự học, tự điều tiết bản thân, khả năng đánh giá sự việc dựa trên những chuẩn mực đạo đức nhất định và mục tiêu sống của chính cá nhân người đó. Khả năng thấu hiểu người khác bao gồm khả năng làm việc theo nhóm và khả năng lãnh đạo.
Các phẩm chất khác bao gồm kiến 6 thức tiềm ẩn, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng làm việc chân tay, thao tác tốt đối với các thiết bị công nghệ thông tin. Charles Wheelar (2002) đưa ra khái niệm vốn con người là toàn bộ các kỹ năng của một cá nhân: học vấn, sự thông minh, uy tín, kinh nghiệm làm việc, khí lực doanh nhân. Nó là tất cả những gì còn lại nếu có ai đó tước đi tất cả tài sản của bạn - công việc, tiền bạc, nhà ở, các tài sản khác - và để bạn lại trên một góc phố chỉ với một bộ quần áo trên người. Ông còn cho rằng vốn con người không chỉ là kiến thức chuyên môn, mà còn bao gồm tính kiên trì, trung thực, sáng tạo - những đức tính tốt góp phần đáng kể giúp bạn kiếm được việc làm.
Theo Bùi Quang Bình (2009), giữa vốn con người và vốn hữu hình giống nhau ở khía cạnh chúng tăng lên nhờ hoạt động đầu tư của chủ thể và theo thời gian đều bị hao mòn. Hoạt động đầu tư làm tăng vốn hữu hình nhờ mua sắm trang bị thêm máy móc nhà xưởng, còn hoạt động đầu tư vào vốn con người nhờ đầu tư học hành. Sự hao mòn của chúng ở đây cùng là hao mòn vô hình dưới ảnh hưởng của công nghệ. Tiến bộ công nghệ làm tư bản hữu hình lạc hậu và mất giá, còn những kiến thức tích lũy được cũng bị lạc hậu nếu không được cập nhật thường xuyên thông qua quá trình đào tạo lại hay tiếp tục tự học tập để bổ sung hoàn thiện.
Chúng cũng có những điểm khác nhau nhất định. Thứ nhất, vốn con người là vốn vô hình gắn với người sở hữu nó, và chỉ được sử dụng khi người chủ của nó tham gia vào quá trình sản xuất. Loại vốn này không thể mang cho vay hay thế chấp như vốn hữu hình. Thứ hai, vốn này gắn liền với người sở hữu không chia sẻ và đầu tư dàn trải tránh rủi ro.
Thứ ba,vốn con người dễ dịch chuyển và động hơn. Cũng theo Bùi Quang Bình (2009), vốn con người cấu thành từ ba nhân tố chính: 1) Năng lực ban đầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người; 2) Những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạo chính quy, và 3) Các kỹ năng, khả năng 7 chuyên môn, những kinh nghiệm tích lũy từ quá trình sống và làm việc. Năng lực ban đầu nhận được từ cha mẹ cùng các điều kiện của gia đình và xã hội khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở. Khi đi học để có năng lực thì người ta phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trong cuộc sống làm việc nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao.
Như vậy, có thể thấy, các khái niệm về vốn con người không có sự khác biệt đáng kể. Hầu hết cùng thống nhất ở điểm chung: đều đề cập đến giáo dục, đến trình độ học vấn; những hiểu biết, kinh nghiệm được hình thành, tích lũy trong quá trình học tập và lao động. Vốn con người cũng hao mòn, phải tốn chi phí để đầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất.2 Các định nghĩa về nghèo đói: 2.1 Khái niệm: Ngân hàng Thế giới (1994a, p.9) đã định nghĩa: “Poverty is not only a problem of low incomes, rather, it is a multi-dimensional problem that includes low access to opportunities for developing human capital and to education.” Nghèo đói không chỉ là vấn đề thu nhập thấp, nó còn là vấn đề đa chiều bao gồm việc tiếp cận thấp các cơ hội phát triển vốn con người và giáo dục. Ngân hàng thế giới (2005) lại có các khái niệm mới về nghèo.
Cách khái niệm thứ nhất nghèo được hiểu là sự suy giảm phúc lợi. Mà phúc lợi bị ảnh hưởng bởi khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính, thường là thu nhập hoặc chi tiêu. Khi thu nhập và chi tiêu của cá nhân hoặc hộ dưới ngưỡng quy ước thì hộ hoặc cá nhân được xem là lâm vào hoàn cảnh nghèo. Cách khái niệm thứ hai của Ngân hàng thế giới (2005) về nghèo có liên quan đến khả năng tiếp cận thực phẩm, nhà ở, giáo dục và y tế.
Ngoài ra, Ngân hàng thế giới (2005) còn cho rằng khái niệm của tác giả Amartya Sen là bao quát nhất, trong đó đề cập nghèo là sự 8 thiếu giáo dục, thiếu sức khỏe, thiếu thu nhập, bất an, thiếu tự tin, thiếu quyền lực và tự do. Nghèo tuyệt đối: được hiểu là một người hoặc một hộ gia đình khi có mức thu nhập thấp hơn thu nhập/tiêu chuẩn tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định. Theo tiêu chí tiền tệ, Ngân hàng Thế giới quy định ngưỡng nghèo là số tiền thu nhập của một người mỗi ngày là 1 đô la hoặc đôi khi là 2 đô la một người mỗi ngày. Đối với Việt Nam, chính phủ ấn định ngưỡng nghèo theo tiêu chuẩn số tiền thu nhập hàng tháng cho mỗi đầu người, và số tiền này thay đổi tùy theo nông thôn và thành thị.000 đồng, thành thị: 260.000 đồng, thành thị: 370.000 đồng, thành thị: 500.
Người cận nghèo: nông thôn: 401.000 đồng, thành thị: 501. Nghèo tương đối: là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người. Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội, do đó cũng theo khái niệm này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào.
Nghèo đa chiều: Theo Lâm Văn Bé (2012), các nhà kinh tế học dựa vào tiêu chuẩn tiền tệ để ấn định ngưỡng nghèo trong khi các nhà xã hội học còn kể thêm những yếu tố nhân sinh để nhìn cái nghèo trong toàn diện.