Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về nghèo và giảm nghèo bền vững, nâng cao năng lực giảm nghèo bền vững. Chương 2: Đánh giá thực trạng năng lực giảm nghèo của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016-2020. Nghèo đói là khái niệm mang ý nghĩa tương đối, bởi vì người nghèo ở quốc gia này có thể sẽ không nghèo hoặc nghèo khổ cùng cực hơn so với quốc gia khác.
“Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Tình trạng nghèo đói ở mỗi quốc gia khác nhau cả về mức độ và số lượng, thay đổi theo thời gian và không gian”. Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều chỉ tiêu được áp dụng như chỉ số nghèo của con người (human poverty index - HPI), hệ số GINI, hệ số TheiL, GDP. Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người mà một quốc gia quy định dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo.
Theo đó, “những người hoặc những hộ có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo” [69, tr. - WB đã đưa ra thước đo nghèo đói như sau: Các nước công nghiệp phát triển là 14 USD/ngày/người - Các nước Đông Á: 4USD/người/ngày - Các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribê là 2USD/người/ngày - Các nước đang phát triển là 1USD/người/ngày. Và đối với các nước nghèo, một số người được coi là đói nghèo khi mà thu nhập dưới 0,5USD/ngày/người [58]. Tuy nhiên, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn đói, nghèo riêng của nước mình và thường thấp hơn chuẩn đói nghèo mà WB khuyến nghị.
Chẳng hạn: - Nước Mỹ năm 1970 quy định ngưỡng nghèo là thu nhập dưới 5.500 USD/hộ 4 người/năm; đến năm 1988 nâng lên dưới 10.921USD/hộ 4 người/năm; năm 1992 là 13.680 USD/hộ 4 người/năm [18]. - Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là 206NDT/người/năm (1986) tại các vùng nông thôn. “Năm 2000 chuẩn nghèo của Trung Quốc điều 5 chỉnh lên 625NDT; đến năm 2007 nâng lên là 786NDT/người/năm và năm 2008 là 1.196 NDT/người/năm” [8] tương đương 175 USD/năm. - Một số chuẩn nghèo tính theo lượng Calo tiêu thụ của một số nước như sau: + Malaixia: 2.910Kcal/ngày tính cho 1 gia đình có 2 người lớn và 3 trẻ em + Pakixtan lấy đường nghèo là tiêu thụ 2.350Kcal/người lớn/ngày.
+ Phi-lip-pin mức 2.000 Kcal/người/ngày. + Xri Lan-ca: 2.500Kcal/người/ngày; + Ne-pan: 2.124 Kcal/người/ngày; + Thái Lan: 2.099 Kcal/người/ngày; + A-dec-bai-gian 2.200 Kcal/người/ngày; + Lào, Campuchia,. ngưỡng nghèo là 2.100Kcal/người/ngày Ngay trong một quốc gia người ta cũng sử dụng các tiêu chuẩn nghèo khác nhau cho mỗi khu vực, mỗi vùng. Thời gian qua, chuẩn nghèo của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể nhằm phù hợp hơn với tình hình phát triển của Việt Nam và hướng đến tiếp cận gần hơn chuẩn nghèo của thế giới.
Dưới đây là chuẩn nghèo Việt Nam thay đổi cụ thể qua từng giai đoạn: Bng 1. Chua Vin èo Nông thôn Nông thôn Nông thôn 1993 - 1996 < 8kg gạo <13kg gạo <20kg gạo <20kg gạo <20kg gạo 1997 - 2000 < 13kg gạo <13kg gạo <15kg gạo <20kg gạo <25kg gạo 2001 - 2005 80.000 đ (Nguồn : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ) 6 Căn cứ Quyết định số 59/2016/QĐ-TTg ngày 19/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020 thì chuẩn nghèo và cận nghèo giai đoạn 2016-2020: Hộ nghèo khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống, có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Ngoài việc xác định hộ nghèo, Việt Nam còn xây dựng tiêu chí vùng nghèo, xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn cần được ưu tiên tập trung nguồn lực XĐGN nhằm tạo ra sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất và tinh thần cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo các vùng DTTS để nhằm mục tiêu đến năm 2020 các địa phương này sẽ có tỉ lệ hộ nghèo ngang bằng với các địa phương khác trong khu vực. Theo Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ, các xã nghèo là xã có: Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 có ít nhất 3 trong 6 điều kiện sau (đối với xã có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, cần có ít nhất 2 trong 6 điều kiện), như: 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế; Trục chính đường giao thông đến Ủy ban nhân dân xã hoặc đường liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa theo tiêu chí nông thôn mới; Trường mầm non, trường 7 tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế; Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 1. Nghèo đói là một hiện tượng mang tính lịch sử nảy sinh trong quá trình phát triển KT-XH của các quốc gia. Nghèo đói ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người, xã hội và cộng đồng.
Muốn XĐGN đạt kết quả cao nhất cần xác định đúng nguyên nhân đói nghèo của mỗi vùng, mỗi khu vực trong mỗi quốc gia, từ đó có sự tác động trực tiếp vào nguyên nhân gây ra đói nghèo để thực hiện có hiệu quả việc XĐGN. Cụ thể như sau: - Bản thân người nghèo trình độ dân trí, học vấn thấp; không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản xuất, kinh doanh, không biết cách phân bổ chi tiêu hoặc chi tiêu lãng phí hoặc do lười biếng; do đông con, neo đơn; do gặp phải rủi ro (tai nạn, ốm đau,…); do thiếu hoặc không có khả năng lao động; do thiếu hoặc không có vốn; do mắc tệ nạn xã hội (cờ bạc, nghiện hút, số đề…). - Các cấp chính quyền: thiếu năng lực, trình độ chuyên môn, hiểu biết, kinh nghiệm cũng như khả năng tài chính để có thể thường xuyên chăm lo, quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo giảm thiểu khó khăn. - Điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thời tiết không thuận lợi; do đất đai cằn cỗi, địa hình dốc, đồi núi hiểm trở khó canh tác; do sinh sống ở vùng sâu vùng xa chưa có các tuyến đường giao thông đi lại; do thiên tai, dịch bệnh bất ngờ… - Do xuất phát điểm nền kinh tế thấp hoặc nền kinh tế kém phát triển: CSHT tối thiểu (giao thông, thủy lợi, thông tin, điện thắp sáng, nước sinh hoạt) chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất; thiếu thị trường để giao lưu sản phẩm hàng hóa… Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh là không chỉ vì một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ mà có thể dẫn tới nghèo đói kinh niên, đói nghèo trên diện rộng được.
Nguyên nhân đói nghèo là có sự đan xen giữa chủ quan và khách quan. Do đó phải phân tích đói nghèo bằng cách nhận diện chuẩn xác các nguyên nhân để tác động trực tiếp đến các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo. Đồng thời cũng cần phân tích những tiềm năng lợi thế, tính chất và đặc điểm đói nghèo của mỗi nhóm hộ 8 nghèo, vùng nghèo để phát huy những tiềm năng nội tại kết hợp với các biện pháp giảm nghèo phù hợp để đạt hiệu quả giảm nghèo cao nhất, bền vững nhất. Nghèo đói có ảnh hưởng lớn đến nhiều người, nhiều lĩnh vực đồng thời nó còn kìm hãm sự phát triển KT-XH nên XĐGN phải được giải quyết bởi nhiều khía cạnh: Từ việc nâng cao nhận thức, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, đến việc tạo cơ hội việc làm, đáp ứng nhu cầu vay vốn tín dụng…“Nghèo là hiện tượng khó khắc phục tuyệt đối trong điều kiện KTTT, nhất là nghèo tương đối”[8].
Bởi vì, một số người thành đạt sẽ giàu có, một số người thất bại sẽ nghèo khó hơn. Nghèo đói phản ánh tình trạng thiếu tài sản như: sức lao động, sức khỏe, vật chất, quyền sở hữu và sử dụng tài sản để tạo ra sản phẩm, thu nhập. Đồng thời nghèo đói cũng phản ánh khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển, khả năng tham gia vào các dịch vụ xã hội thiết yếu, CSHT… rất hạn chế của người nghèo. “Nếu nghèo là hiện tượng khó khắc phục thì đói là hiện tượng không nên để xảy ra, nhất là trong các quốc gia có khả năng tự cân đối lương thực” [8].
Nhưng, XĐGN hiệu quả và bền vững lại thực sự khó khăn trong thực tế do các vấn đề về quan niệm, nguồn lực, cơ chế thực hiện và ý chí tự vươn lên của người nghèo .v… Giảm nghèo là một phạm trù lịch sử mang tính tương đối, bởi vì nghèo vẫn luôn tồn tại trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, thu nhập, địa vị xã hội…giữa các cá nhân với nhau. Nói cách khác là có thể xoá được đói, nhưng không thể xoá được nghèo tuyệt đối mà chỉ có thể giảm nghèo. Chỉ khi xã hội loài người đạt tới xã hội cộng sản chủ nghĩa như K.Marx và Ph.Ăngghen dự báo: không còn hiện tượng nghèo nữa thì việc giảm nghèo cũng sẽ không còn phải đặt ra.