đặt vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện. Mô hình phân tích sẽ được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Xây dựng phương pháp và mô hình nghiên cứu.
Giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số trong nghiên cứu. Chương 4: Kết qủa nghiên cứu Kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình. Chương 5: Thảo luận và kiến nghị Kết luận tóm lược những vấn đề mà nghiên cứu đã giải quyết. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị.
Đồng thời, đưa ra một số hạn chế đề tài nhằm tạo hướng đi cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Lý thuyết về Tham nhũng 2. Định nghĩa Tham nhũng Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) định nghĩa “tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực được giao phó để nhằm tư lợi”.
Trong từ điển của Oxford (2000, trang 281), tham nhũng được mô tả như: [1] hành vi gian lận hoặc phi pháp, đặc biệt là những người làm trong chính quyền; [2] hành động làm thay đổi từ chuẩn đạo đức thành thiếu đạo đức của hành vi. Vì vậy, tham nhũng bao gồm ba yếu tố quan trọng là đạo đức, hành vi và quyền lực. Theo nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (The World Bank Group) “tham nhũng là lạm dụng công quyền nhằm tư lợi”. Việc lạm quyền ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng.
Khu vực công được cho là bị lạm quyền khi một đại diện nhận, gạ gẫm hoặc sách nhiễu hối lộ. Nó cũng bị lạm dụng khi các đại diện tư nhân chủ động đưa hối lộ để phá vỡ các chính sách công và quy trình công vì các lợi thế cạnh tranh cũng như lợi nhuận. Khu vực công cũng có thể bị lạm dụng vì lợi ích cá nhân ngay cả khi không có hối lộ xảy ra, thông qua sự bảo trợ và gia đình trị, các hành vi trộm cắp tài sản nhà nước, hay sự chuyển hướng của các khoản thu của nhà nước. Rick (2002) cho rằng tham nhũng, theo nghĩa đơn giản nhất, là sự lạm dụng quyền lực, đa phần là để đạt được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm mà người ta phải trung thành với nó.
Nhiều nhà kinh tế cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng kinh tế, trong đó có Shleifer & Vishny (1993) cho rằng “tham nhũng là việc bán tài sản của chính phủ nhằm tư lợi”. Tóm lại, khái niệm về tham nhũng là đa dạng, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận mà nó có thể được hiểu theo những ý nghĩa khác nhau. Trong nghiên cứu này, tác giả mong muốn xem xét sự ảnh hưởng của tham nhũng đối với giáo dục và bất 123doc 6 bình đẳng thu nhập trong phạm vi quốc gia, cụ thể là Việt Nam. Vì vậy, thuật ngữ tham nhũng trong nghiên cứu này là đề cập đến tham nhũng của giới công chức, họ lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thay đổi quy định, quy trình của pháp luật vì mục tiêu tư lợi và làm tổn hại đến môi trường kinh doanh và xã hội.
Đo lường tham nhũng Trên thế giới Một vài chỉ số đo lường tham nhũng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm: (i) Chỉ số tham nhũng được xây dựng bởi PRS – ICRG. Chỉ số này đã được tạo ra từ đầu thập niên 1980 và bao gồm gần 150 quốc gia phát triển và đang phát triển. Dữ liệu PRS gồm các chỉ số về chính trị, kinh tế và tài chính. Mỗi chỉ số được phân hạng cụ thể.
Tham nhũng là một trong 12 thành tố về rủi ro chính trị, được đo lường từ mức 0 đến 6, điểm cao hơn nghĩa là hiệu quả hơn. Nghiên cứu của Tanzi & Davoodi (1998) sử dụng chỉ số này; (ii) Chỉ số tham nhũng thứ hai được xây dựng bởi Kaufmann của chỉ số Worldbank. Chỉ số này là một phần của chỉ số rộng hơn và được gọi là chỉ số quản trị. Chỉ số này được công bố cho mỗi giai đoạn 2 năm và bao gồm gần 200 quốc gia.
Nó được tính toán dựa trên nền tảng của 100 biến riêng lẻ về cảm nhận tham nhũng và được thu thập từ 40 nguồn dữ liệu của hơn 30 tổ chức khác nhau; (iii) Chỉ số thứ ba là chỉ số được biết đến nhiều nhất đó là CPI. CPI được tính toán bởi Lambsdorff và được đại diện bởi tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) từ năm 1995. Đây cũng là chỉ số được xây dựng dựa trên các chỉ số được khảo sát. CPI được thiết kế để đánh giá cảm nhận của những người có thông tin về mức độ tham nhũng (các chuyên gia) và được chấm điểm theo mức từ 0 (tham nhũng cao) đến 10 (tham nhũng thấp).
CPI tổng hợp cảm nhận của những người được khảo sát theo mức độ của tham nhũng (tham nhũng được định nghĩa là việc lạm dụng công quyền nhằm tư lợi). Mức độ tham nhũng này phản ánh tần số chi trả tham nhũng và các rào cản bị áp đặt trong kinh doanh (Lambsdorff, 2004). 123doc 7 Ở Việt Nam Các nghiên cứu thực nghiệm về tham nhũng ở Việt Nam hiện nay thường sử dụng 2 chỉ số sau để đo lường cho biến tham nhũng: Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI, PCI được xây dựng bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ US- Aid, chỉ số này được dùng để đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh. PCI được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm tám chỉ số thành phần và đến năm 2013 thì chỉ số này được hoàn thiện bao gồm 10 chỉ số thành phần: Chi phí gia nhập thị trường; tiếp cận đất đai; tính minh bạch; chi phí thời gian; chi phí không chính thức; cạnh tranh bình đẳng; tính năng động; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; đào tạo lao động và thiết chế pháp lý.
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng chỉ số này để đo lường tham nhũng (Việt, N. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công – PAPI, PAPI được xây dựng bởi Trung tâm Nghiên cứu Phát triển-Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, chỉ số này tập trung tìm hiểu hiệu quả công tác điều hành, thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công dựa trên đánh giá và trải nghiệm của người dân, với dữ liệu được thu thập thường niên. Cho đến nay, chỉ số PAPI đã thu thập và phản ánh trải nghiệm của gần 89.000 người dân. Sau hai năm thử nghiệm lần lượt với 3 tỉnh trong năm 2009 và 30 tỉnh trong năm 2010, các chỉ số của PAPI ngày càng được hoàn thiện.
Năm 2011, nghiên cứu PAPI lần đầu tiên được triển khai trên toàn quốc với sự tham gia của toàn bộ 63 tỉnh/thành phố và từ đó các chỉ báo chính được cố định để phục vụ việc so sánh kết quả qua các năm. Chỉ số PAPI bao gồm 6 trục nội dung chính: Tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; trách nhiệm giải trình với người dân; kiểm soát tham nhũng, thủ tục hành chính công và cung ứng dịch vụ công. Trong nghiên cứu này, tác 123doc 8 giả sẽ sử dụng trục nội dung chính của chỉ số PAPI là Kiểm soát tham nhũng để đo lường tham nhũng theo cấp tỉnh thành. Giáo dục Giáo dục là một hình thức của vốn con người (human capital).
Giáo dục và sức khỏe là hai trụ cột quan trọng của vốn con người và là mục tiêu nền tảng cho phát triển (Todaro and Smith 2015; Piketty 2014). Tương tự như tham nhũng, giáo dục cũng có nhiều phương pháp đo lường khác nhau. Tuy nhiên, mỗi phương pháp đo lường cho giáo dục đều tồn tại những hạn chế nhất định. Một số phương pháp đo lường giáo dục được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm: 2.
Tỷ lệ tham gia giáo dục Tỷ lệ tham gia giáo dục hay còn được gọi là tỷ lệ nhập (Enrollment Ratios) học được sử dụng như các chỉ số phát triển con người. Thông thường được các nghiên cứu sử dụng dưới dạng các chỉ số như tỷ lệ nhập học cấp tiểu học, tỷ lệ nhập học cấp trung học cơ sở và tỷ lệ nhập học trung học phổ thông. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia giáo dục chỉ cho biết việc tiếp cận giáo dục và nó không biểu hiện được tích lũy trình độ học vấn và không phản ánh nguồn vốn con người. Số năm trung bình tham gia giáo dục chính thức (đào tạo chính quy) Số năm trung bình tham gia giáo dục chính thức cũng được dùng để đo lường cho giáo dục.
Các thông tin về phân phối giáo dục của mỗi nước được tính toán bằng công thức sau: 𝑆̅(𝑀𝐸𝐴𝑁 ) = ∑𝑖 𝐿𝑖 𝑆𝑖. Trong đó Li là tỷ lệ lực lượng lao động ở mức giáo dục thứ i, và Si là số năm đi học tương ứng cho mức giáo dục thứ i. Tuy nhiên, chỉ số này không tính đến khía cạnh chất lượng giáo dục. Ví dụ, một năm tham gia đi học ở Papua New Guinea được giả định sẽ tạo ra mức tăng tương ứng vốn nhân lực như một năm đi học tại Nhật Bản (Hanushek và Woessmann, 2008).
Hơn thế, một người với 12 năm đi học được xem như bằng 2 người có 6 năm đi học (Stroombergen và cộng sự, 2002). Chất lượng giáo dục Behrman và Birdsall (1983) đề nghị rằng chất lượng giáo dục nên được bổ sung vào đánh giá khi đo lường mức độ phát triển con người bên cạnh việc sử dụng số lượng trường học. Thông thường có hai phương pháp chủ yếu được sử dụng để đo lường chất lượng giáo dục: (i) Phương pháp tiếp cận thứ nhất là theo hướng đầu vào. Người ta xem xét quốc gia đó cung cấp thêm nguồn lực cho giáo dục như thế nào so với các ngành khác trong nền kinh tế.
Chẳng hạn như các chỉ tiêu: tỷ lệ học sinh/giáo viên, chi tiêu cho lương giáo viên, sách, và các tài liệu đọc khác có thể dùng để đo lường các nguồn lực đầu vào cho ngành giáo dục.