Tác động của giao dịch M&A đến tỷ suất sinh lợi bất thường của cổ phiếu trong ngắn hạn

Nghiên cứu tác động của giao dịch ma đến tỷ suất sinh lợi bất thường của cổ phiếu trong ngắn hạn, cung cấp cái nhìn sâu sắc cho nhà đầu tư.

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2013

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

PHẦN GIỚI THIỆU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.7. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG M&A VÀ KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.1. Tổng quan hoạt động M&A

1.2. Kết quả nghiên cứu tại thị trường tài chính các quốc gia phương Tây

1.3. Kết quả nghiên cứu tại thị trường tài chính các quốc gia châu Á

1.4. Quy trình thực hiện và phương pháp đo lường, kiểm định trong nghiên cứu sự kiện

1.5. Kết luận chương I

2. CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vài nét cơ bản về thị trường M&A giai đoạn 2007-2013

2.2. Lựa chọn mẫu - Xử lý số liệu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thống kê mô tả kết quả nghiên cứu

3.2. Bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm

3.3. Tác động đối với công ty bên bán so với công ty bên mua

3.4. Phương thức thanh toán tiền mặt so với thanh toán bằng cổ phiếu

3.5. Giao dịch M&A trên sàn giao dịch chứng khoán HSX và sàn giao dịch chứng khoán HNX

3.6. Chiến lược M&A thân thiện (friendly takeover) hay M&A thù địch (hostile takeover)

3.7. Chiến lược M&A tập trung hay đa dạng hóa

3.8. Giao dịch M&A giữa các nhóm ngành kinh tế

3.9. Giao dịch M&A giữa các công ty nội địa và giao dịch M&A có yếu tố nước ngoài

3.10. Chiến lược M&A với đối tác mới hoàn toàn hay cổ phiếu hiện hữu

3.11. Kết quả kiểm định phi tham số

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN

4.1. Kết luận của đề tài nghiên cứu

4.2. Những giới hạn cần khắc phục của đề tài

4.3. Gợi ý hướng nghiên cứu mới

4.4. Gợi ý chính sách quản lý hoạt động giao dịch M&A

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của giao dịch M A đến lợi nhuận cổ phiếu

Giao dịch M&A (Mergers and Acquisitions) đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều doanh nghiệp. Tác động của giao dịch này đến lợi nhuận cổ phiếu ngắn hạn là một vấn đề được nhiều nhà đầu tư và nhà nghiên cứu quan tâm. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong ngắn hạn, giá cổ phiếu của các công ty tham gia giao dịch M&A thường có sự biến động mạnh mẽ, phản ánh kỳ vọng của thị trường về lợi ích từ việc sáp nhập hoặc mua lại.

1.1. Định nghĩa và hình thức giao dịch M A

Giao dịch M&A bao gồm nhiều hình thức như sáp nhập, mua lại, và hợp nhất. Mỗi hình thức có những đặc điểm riêng và ảnh hưởng khác nhau đến giá cổ phiếu của các công ty tham gia. Việc hiểu rõ các hình thức này giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về tác động của chúng đến thị trường chứng khoán.

1.2. Tại sao giao dịch M A lại quan trọng

Giao dịch M&A không chỉ giúp các công ty mở rộng quy mô và tăng cường vị thế cạnh tranh mà còn có thể tạo ra giá trị cho cổ đông thông qua việc tối ưu hóa tài sản và nguồn lực. Điều này dẫn đến sự quan tâm lớn từ phía nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong giao dịch M A ảnh hưởng đến lợi nhuận cổ phiếu

Mặc dù giao dịch M&A có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức và rủi ro. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận cổ phiếu trong ngắn hạn. Các nhà đầu tư cần nhận thức rõ về những rủi ro này để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.

2.1. Rủi ro từ việc định giá không chính xác

Một trong những thách thức lớn nhất trong giao dịch M&A là việc định giá không chính xác. Nếu giá trị thực của công ty mục tiêu không được đánh giá đúng, điều này có thể dẫn đến sự thất vọng của nhà đầu tư và ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu.

2.2. Tác động từ sự không chắc chắn của thị trường

Thị trường chứng khoán thường phản ứng mạnh mẽ với các thông tin liên quan đến giao dịch M&A. Sự không chắc chắn về kết quả của giao dịch có thể dẫn đến sự biến động lớn trong giá cổ phiếu, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc dự đoán xu hướng giá.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của giao dịch M A đến lợi nhuận cổ phiếu

Để đánh giá tác động của giao dịch M&A đến lợi nhuận cổ phiếu, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Phương pháp nghiên cứu sự kiện (Event Study) là một trong những phương pháp phổ biến nhất, cho phép phân tích phản ứng của thị trường đối với thông tin giao dịch M&A.

3.1. Phương pháp nghiên cứu sự kiện

Phương pháp nghiên cứu sự kiện giúp xác định suất sinh lợi bất thường (AR) của cổ phiếu trong khoảng thời gian xung quanh ngày công bố giao dịch M&A. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu đánh giá tác động ngắn hạn của giao dịch đến giá cổ phiếu.

3.2. Các chỉ số tài chính cần theo dõi

Các chỉ số như suất sinh lợi bất thường trung bình (AAR) và suất sinh lợi bất thường tích lũy (CAR) là những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tác động của giao dịch M&A đến lợi nhuận cổ phiếu. Việc theo dõi các chỉ số này giúp nhà đầu tư có cái nhìn rõ hơn về hiệu quả của giao dịch.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về giao dịch M A

Nghiên cứu về tác động của giao dịch M&A đến lợi nhuận cổ phiếu đã chỉ ra rằng, trong nhiều trường hợp, các công ty bên mua thường ghi nhận lợi nhuận cổ phiếu tích cực hơn so với các công ty bên bán. Điều này cho thấy sự kỳ vọng của thị trường về giá trị gia tăng từ các giao dịch này.

4.1. Kết quả nghiên cứu tại thị trường Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy rằng, trong khoảng thời gian ngắn hạn, cổ phiếu của các công ty bên mua thường có xu hướng tăng giá, trong khi cổ phiếu của các công ty bên bán có thể ghi nhận sự biến động lớn hơn. Điều này phản ánh sự kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi ích từ giao dịch M&A.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giao dịch M A

Các yếu tố như phương thức thanh toán, tính chất của giao dịch (thân thiện hay thù địch) và sự tham gia của đối tác nước ngoài đều có thể ảnh hưởng đến kết quả của giao dịch M&A và từ đó tác động đến lợi nhuận cổ phiếu.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về giao dịch M A

Tác động của giao dịch M&A đến lợi nhuận cổ phiếu ngắn hạn là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và cần thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn về thị trường mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý trong việc ra quyết định.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng giao dịch M&A có thể tạo ra lợi nhuận cổ phiếu tích cực cho các công ty bên mua, trong khi các công ty bên bán có thể gặp rủi ro lớn hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá kỹ lưỡng trước khi tham gia vào các giao dịch M&A.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao gồm các yếu tố dài hạn và tác động của giao dịch M&A đến giá trị doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về ảnh hưởng của giao dịch M&A đến thị trường chứng khoán.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Tác động của giao dịch ma đến tỷ suất sinh lợi bất thường của cổ phiếu trong ngắn hạn luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề các nhà quản lý mắc sai lầm một cách hệ thống vì chủ quan trong việc đánh giá cơ hội sáp nhập bởi họ quá tự tin vào bản thân. Do đó, động cơ quản lý là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá kết quả của thương vụ M&A vì các nhà quản lý sẽ hành xử để tối đa hóa giá trị của họ thay vì giá trị của các cổ phiếu (Trautwein: 1990, Zalewski: 2001). Lewellen& Rosenfeld (1985) cũng đưa ra kết luận rằng tồn tại mối tương quan trọng yếu giữa tỷ suất sinh lợi (TSSL) bất thường từ thương vụ M&A với tỷ lệ % sở hữu của ban điều hành tại công ty đi bên mua, kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu các nhà quản lý với tỷ lệ sở hữu lớn tại công ty thường không thích tham gia vào các thương vụ M&A bởi nó gây nên tình trạng giảm giá trị đối với cổ phiếu công ty đi bên mua. Firth (1991) đã kiểm định mối quan hệ giữa phần thưởng Ban điều hành với giá trị cổ phiếu và nhận thấy rằng nếu giá trị của cổ phiếu gia tăng đồng nghĩa phần thưởng gia tăng cho ban điều hành.

Nhưng ngược lại khi giá trị của các cổ phiếu bị suy giảm thì Ban điều hành vẫn thu được lợi ích nhất định từ các giao dịch M&A. Những phát hiện này rất quan trọng bởi chúng sẽ ủng hộ cho quan điểm các nhà quản lý thường thông qua các thương vụ M&A để tối ưu hóa lợi ích của mình đánh đổi bởi sự gia tăng chi phí giành cho cổ phiếu. Tóm lại: 3 động lực chính dẫn đến kỳ vọng của TSSL bất thường đối với công ty bán (mục tiêu) và công ty bên mua được chỉ ra bởi Berkovitch & Narayan (1993): Động lực về giá trị cộng hưởng có tác động tích cực đến TSSL bất thường của cả công ty bên mua và công ty mục tiêu, trong khi đó động cơ về chi phí đại diện và trục lợi sẽ có tác động tiêu cực đối với công ty bên mua. Ngược lại, công ty mục tiêu sẽ nhận được TSSL bất thường tích cực nếu bên mua tham gia M&A với động cơ chi phí đại diện và trục lợi.

Do đó, có thể kết luận rằng công ty mục tiêu thường đạt được TSSL bất thường cao hơn so với bên đi bên mua trong trường hợp xuất hiện công bố thông tin về giao dịch M&A. Kết quả nghiên cứu tại thị trường tài chính các quốc gia phương Tây Nghiên cứu của Dodd và Ruback (1977) tại Mỹ kết luận rằng trong tháng của giao dịch chào mua được thông báo, giá trị của công ty bên mua ghi nhận mức lợi nhuận bất thường 19 lũy kế bình quân (Cumulated abnormal return - CAR) là 2.58% tương ứng với trường hợp giao dịch xảy ra thành công hay không. Trong khi đó, CAR của các công ty mục tiêu lần lượt tăng 20.58% nếu thương vụ được tiến hành thành công, thậm chí CAR cũng đạt được 18.96% dù thương vụ bị đổ vỡ. Nghiên cứu Dodd (1980) cho thấy bất luận kết quả của giao dịch thành công hay thất bại, các cổ phiếu của công ty mục tiêu (bên bán) đều đạt được lợi nhuận bất thường bình quân CAR +13% kể từ lúc thương vụ được thông báo.

Trong khi đó, đối với các cổ phiếu của công ty đi mua (bên mua) CAR của các cổ phiếu là -7.22% nếu gia dịch thành công và - 5.22% nếu giao dịch thất bại. Nghiên cứu Jensen và Ruckback (1983) kết luận rằng giao dịch M&A thành công đem đến CAR lên tới 20-30% cho cổ phiếu của công ty mục tiêu nhưng tỷ lệ rất nhỏ cho các cổ phiếu công ty đi bên mua. Nghiên cứu của Schwert (1996) và Brunner (2003) kết luận rằng CAR cho cổ phiếu công ty mục tiêu là khoảng 35% trong khi CAR cho cổ phiếu công ty đi bên mua gần như là bằng Zero. Nghiên cứu của Firth (1980) tại Anh kết luận rằng phần mất mát giá trị của công ty đi bên mua (Bidders) vượt quá giá trị đạt được bởi các cổ phiếu công ty bên bán (Targets), báo cáo cho thấy tỷ lệ âm đáng kể lợi nhuận bất thường lũy kế bình quân (Cumulated Average Abnormal Return - CAR) là -6.3% trong tháng giao dịch được công bố.

Nghiên cứu của Franks và Harris (1989) kết quả cho thấy với tổng lợi nhuận bất thường dương của cổ phiếu công ty mục tiêu lên tới 23.3% trong "tháng 0" và chỉ 1% cho công ty đi bên mua trong cùng thời kỳ. Nghiên cứu Asquith (1983) nhận ra rằng công ty mục tiêu đạt được tỷ suất lợi nhuận +7% trong ngày thông tin chào mua được công bố. Trong nghiên cứu khác tiến hành trong giai đoạn 1977 - 1986 tại UK, Limmack (1991) cho thấy sự gia tăng giá trị đáng kể cho các cổ phiếu công ty mục tiêu trong cả 2 tình huống giao dịch hoàn thành hay thậm chí dang dở, nhưng ghi nhận sự sụt giảm giá trị đáng kể giành cho cổ phiếu công ty đi bên mua. 20 Nghiên cứu Parkinson (1991) cho thấy giá trị dương rất lớn CAR lên tới 47.85% giành cho các cổ phiếu công ty mục tiêu trong tháng thông báo giao dịch M&A.

Trong khi đó, các cổ phiếu của công ty đi bên mua mặc dù cũng đạt được tỷ lệ CAR dương, tuy nhiên không đáng kể, chỉ đạt 7. Nghiên cứu của Bagnoli, Gordon, Lipman (1989) thông qua mô hình tín hiệu (signal model) cũng cho thấy cùng kết quả đối với động thái mua cổ phiếu quỹ nhằm mục đích chống bên mua. Gần đây, nghiên cứu Grogory (1997) kết luận rằng phương thức chi trả bằng cổ phiếu tạo ra lợi nhuận bất thường âm đáng kể trong vòng 24 tháng sau khi giao dịch M&A được tiến hành hoàn tất, trong khi các giao dịch được chi trả bằng tiền mặt không gây ra điều này. Nghiên cứu của Keown & Pinkerton (1981) nhận thấy sự biến động TSSL trước khi xuất hiện thông báo chính thức giao dịch M&A cho thấy sự rò rỉ thông tin là vấn đề quan trọng trong 12 ngày trước khi xảy ra thông báo.Vì lý do này, thông thường sẽ nhận thấy TSSL bất thường xuất hiện trong những ngày trước và sau ngày sự kiện, điều này loại bỏ đặc điểm của thị trường hiệu quả dạng mạnh.

Kết quả nghiên cứu tại thị trường tài chính các quốc gia châu Á 1. Thị trường chứng khoán Trung Quốc Nghiên cứu của Zhang và Zhang (1999) nhận thấy rằng trong khoảng thời gian 10 ngày trước ngày ra thông báo và sau 20 ngày sau đó, CAR của cả công ty mục tiêu lẫn công ty bên mua đều xấp xỉ zero mặc dù kết quả cho thấy xu hướng gia tăng. Nghiên cứu của Yu và Yang (2000) cho thấy giá trị công ty mục tiêu có sự gia tăng đáng kể trong tháng công bố sự kiện và không có sự phản ứng rõ ràng đối với giá trị công ty đi bên mua. Nghiên cứu của Li (2002) nhận thấy giá trị CAR dương trọng yếu cho công ty bên mua trong khoảng thời gian ngắn event-window xung quanh ngày thông báo, và không có sự thay đổi đáng kể nào đối với giá trị của cổ phiếu công ty mục tiêu.

Yang và Liu (2000) nhận thấy rằng trong khoảng thời gian 40 ngày trước khi thông báo giao dịch chính thức được công bố, giá cổ phiếu bắt đầu có dấu hiệu biến động mạnh, sau đó 21 giá cổ phiếu lại trải qua quá trình điều chỉnh với chiều hướng ngược lại. Nghiên cứu nhận định rằng những thông tin rò rỉ trước khi sự kiện được công bố là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng trên và sự điều chỉnh theo chiều hướng ngược lại sau khi giao dịch được công bố sẽ bù trừ gần như hoàn toàn giá trị biến động trước đó, điều này dẫn đến sự thay đổi gần như không đáng kể đối với giá trị của các công ty. Nghiên cứu của Zhang (2003) sử dụng kết hợp 2 phương pháp Event study và Accounting đã đi đến kết luận khá tương đồng như các nghiên cứu ở TTCK phương Tây, theo đó giá trị CAR của các công ty bên mua ghi nhận giá trị âm đáng kể lên tới -16.67% trong khi các công ty mục tiêu đạt được CAR +29. Nghiên cứu của Liang (2009) kết quả cho thấy tồn tại sự biến động mạnh có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 10 ngày trước khi giao dịch M&A được thông báo.

Nghiên cứu Deng (2007) cho thấy trong ngắn hạn cả cổ phiếu công ty mục tiêu và công ty bên mua đều đạt được CAR dương trong gian đoạn ngày [-1;1] của thời điểm công bố giao dịch M&A. Nhưng ngay sau đó, vào ngày T=2, CAR của cổ phiếu công ty mục tiêu và bên mua đều ghi nhận giá trị âm. Điều này khiến tác giả nghiên cứu nghi ngờ có thể tồn tại vấn đề rò rỉ thông tin và làm giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Trung Quốc. Thị trường chứng khoán các quốc gia có nền kinh tế mới nổi Trong nghiên cứu của Jianyu Ma, José A.

Pagán và Yun Chu (2009) đo lường TSSL bất thường giành cho các cổ phiếu của các công ty bên mua xung quanh thông báo giao dịch M&A tại TTCK của 10 quốc gia châu Á mới nổi gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, và Thái Lan kết quả cho thấy rằng CAR dương trong 3 khung thời gian sự kiện (event window) khác nhau, gồm:  Khung thời gian sự kiện 2 ngày: (0, 1)  Khung thời gian sự kiện 3 ngày: (-1, 1)  Khung thời gian sự kiện 5 ngày: (-2, 2) 22 Ngoài ra, nghiên cứu cũng đo lường tác động của việc rò rỉ thông tin giao dịch M&A cho thấy đây là hiện tượng có ý nghĩa thống kê quan trọng tại nhóm các quốc gia có nền kinh tế mới nổi ở Châu Á. Tuy nhiên, so với các nghiên cứu về thị trường phát triển, những phát hiện của nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt với kết luận của các kết quả nghiên cứu tại TTCK Mỹ hay Châu Âu, cụ thể nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về việc tồn tại những tác động tiêu cực về giá trị đối với các cổ phiếu công ty đi mua (Gaughan 2005; Hackbarth & Morellec, 2008). Nghiên cứu của Cheung và Mun (2009) tại châu Á cho thấy, thông báo giao dịch M&A được xem là tin tức tích cực đối với công ty đi bên mua nhưng không hẳn là tích cực đối với các công ty bên bán (công ty mục tiêu).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ