Chương I đã giới thiệu những vấn đề chung về bài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi và những kết quả kỳ vọng đạt được. Các phần tiếp theo của bài nghiên cứu được bố cục như sau: Chương II – Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Phần này sẽ trình bày tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây qua đó sẽ có được một góc nhìn tổng quan và có sự so sánh về kết quả thực nghiệm của các nghiên cứu khác nhau với mô hình, dữ liệu khác biệt. Chương III- Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Phần này sẽ trình bày chi tiết cách dữ liệu được chọn lọc, thu thập, tính toán và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong mô hình để trả lời cho các câu hỏi được đặt ra. Chương IV- Kết quả nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày các kết quả định lượng từ việc hồi quy dữ liệu, qua đó thấy được mức độ ảnh hưởng cũng như mối quan hệ giữa thay đổi giá dầu thế giới và TSSL chứng khoán niêm yết tại Việt Nam Chương V sẽ tổng kết lại bài nghiên cứu, các kết quả và khuyến nghị được rút ra từ bài nghiên cứu. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2.
Tổng quan các bài nghiên cứu trước đây Các lý thuyết kinh tế học cho thấy mối tương quan nghịch chiều từ sự gia tăng của giá dầu lên thành quả của thị trường Friedman. Điều đó bắt nguồn từ việc giá dầu tăng sẽ dẫn đến sự suy giảm trong tổng sản phẩm quốc nội GDP của các quốc gia, kéo theo tình trạng kinh doanh kém của các công ty bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ thay đổi giá dầu. Thu nhập giảm, vì sự gia tăng chi phí đầu vào là xăng dầu, và hiển nhiên là TSSL chứng khoán cũng sẽ giảm theo tác động dây chuyền đó. Lý thuyết cơ sở trong nghiên cứu của tôi xuất phát từ hai nhánh nghiên cứu lớn về mối quan hệ giữa giá dầu và các yếu tố vĩ mô cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô và kết quả hoạt động của công ty.
Ở nhánh thứ nhất, các nghiên cứu có liên quan như Hamilton (1983), Melick and Thomas (1997), MacLaury (1978) và Ederington and Guan (2010) có mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu này cũng dự báo độ biến động của giá dầu thô. Nhánh nghiên cứu thứ hai, các nghiên cứu này cho thấy rằng một mức tăng trưởng kinh tế cao sẽ dẫn đến một thị trường cổ phiếu lợi nhuận cao. Hai nhánh nghiên cứu này dẫn đến kết luận rằng khi giá dầu tăng lên sẽ làm giảm tổng sản lượng quốc nội (GDP) thông qua đó sẽ làm giảm doanh thu của những công ty trong đó giá dầu có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chi phí sản xuất và điều này dẫn đến một sự sụt giảm trong giá cổ phiếu.
nếu thị trường cổ phiếu không hiệu quả thì tác động của giá dầu đến TSSL sẽ có hiệu ứng trễ. Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ xem xét liệu tác động của giá dầu đến TSSL của các công ty có ngược lại với TSSL thị trường cổ phiếu hay không. Nghiên cứu này của tôi dựa trên các nghiên cứu tiên phong của Jones and Kaul (1996), Chen (1986), và Driesprong (2008). Jones and Kaul (1996) sử dụng mô hình chuỗi thời gian để kiểm định tác động của giá dầu thực lên TSSL cổ phiếu thực dựa trên dữ liệu hàng quý của bốn quốc gia phát triển lần lượt là Mỹ (1947-1991), Canada (1960-1991), Nhật bản (1970-1991) và Anh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các tác giả này tìm thấy rằng giá dầu có tác động âm với TSSL thực cho tất cả bốn quốc gia trên. Chen (1986) sử dụng mô hình hồi quy đa biến trong đó TSSL thị trường là một hàm số phụ thuộc vào các biến kinh tế vĩ mô và biến giá dầu trên thị trường Mỹ. Phân tích thực nghiệm của họ sử dụng dữ liệu theo tháng trong giai đoạn 1953-1983. Các tác giả không tìm thấy ý nghĩa thống kê trong tác động của giá dầu đến TSSL của thị trường.
Driesprong (2008) kiểm định tác động của giá dầu đến TSSL thị trường cổ phiếu tổng hợp sử dụng dữ liệu theo tháng giai đoạn tháng 10/1973 đến tháng 04/2003 cho 48 quốc gia phát triển và đang phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đối với 17 trong số 18 nước phát triển và kết luận này vẫn đúng với các nước đang phát triển tuy nhiên điều này là không đúng khi sử dụng dữ liệu gộp lại với nhau. Một điểm chung trong các nghiên cứu này là tập trung vào nghiên cứu cho thị trường tổng hợp. Jones and Kaul (1996) kiểm định dựa trên thị trường tổng hợp của Mỹ, Canada, Nhật bản, Anh.
Chen (1986) nghiên cứu trên thị trường tổng hợp của Mỹ. Driesprong (2008) kiểm định dựa trên chỉ số thị trường cổ phiếu tổng hợp của 18 quốc gia. Nghiên cứu của Narayan và Sharma (2011) kiểm định quan hệ giữa giá dầu và TSSL chứng khoán tại 560 công ty niêm yết trên NYSE giai đoạn từ ngày 05 tháng 01 năm 2000 đến 31 tháng 12 năm 2008. Các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy giá dầu tác động lên TSSL chứng khoán thay đổi tùy thuộc vào ngành công ty đang hoạt động.
Sự khác biệt từ thay đổi giá dầu lên TSSL các chứng khoán cũng thay đổi tùy thuộc vào qui mô của công ty. Để cụ thể hơn tôi lần lượt đi vào từng nghiên cứu của Jones and Kaul (1996), Chen (1986), và Driesprong (2008) và một số nghiên cứu khác. Đầu tiên là Chen, Roll and Ross (1986), nghiên cứu này của tác giả bắt đầu khi cho rằng giá cả của tài sản thì chịu tác động bởi các tin tức kinh tế. Giá cả của tài sản thị chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các sự kiện không dự báo được, trong đó có một số sự 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiện có tác động mạnh hơn các sự kiện khác.
Cùng với khả năng của nhà đầu tư trong việc đa dạng hóa danh mục, lý thuyết tài chính hiện đại tập trung xem xét các tác động hệ thống như là một phần của rủi ro đầu tư. Kết luận chung được đưa ra cho lý thuyết này là cần thêm vào trong mô hình định giá một yếu tố TSSL dài hạn khi tài sản chịu tác động bởi những tin tức kinh tế hệ thống và sẽ không có được bất kỳ một lợi ích thêm nào từ việc đa dạng hóa rủi ro này. Nội dung của lý thuyết này không có gì quá tranh cãi tuy nhiên các sự kiện nào có thể tác động đến tất cả các tài sản. Có một khoảng cách lớn trong các nghiên cứu về lý thuyết các yếu tố trạng thái đại diện cho tác động hệ thống và sự thiếu hiểu biết trong việc xác định các yếu tố này.
Sự biến động của giá cả tài sản gợi ý về sự hiện diện của các tác động ngoại sinh tương ứng tuy nhiên các biến kinh tế này chưa được xác định trong các nghiên cứu trước đây hoặc nếu có thì chỉ riêng lẻ và không đầy đủ. Trong bài nghiên cứu này, tác giả xây dựng khung lý thuyết để từ đó lựa chọn các yếu tố đại diện cho các biến trạng thái hệ thống. Một đóng góp lớn của nghiên cứu này là tác giả sử dụng kỹ thuật tính toán để đo lường các yếu tố không mong đợi trong các biến trạng thái. Các mô hình được xây dựng để kiểm định liệu các biến trạng thái này có tác động đến TSSL hay không.
Ngoài ra, nghiên cứu này còn cung cấp các chỉ số thị trường, chỉ số thu nhập và chỉ số giá dầu trong mối so sánh với các biến trạng thái khác về mức độ quan trọng trong việc định giá. Lý thuyết trung tâm trong nghiên cứu của Chen and Roll (1986) cho rằng không một lý thuyết thỏa đáng nào có thể kết luận về mối quan hệ giữa thị trường tài chính và các yếu tố kinh tế vĩ mô là hoàn toàn một chiều. Tuy nhiên, giá cổ phiếu thường phản ứng trước các yếu tố bên ngoài. Dễ dàng nhận thấy rằng các biến kinh tế vĩ mô là nội sinh.
Chỉ có các yếu tố tự nhiên như thiên thạch, động đất hay những yếu tố tương tự mới thực sự ngoại sinh đối với nền kinh tế thế giới, tuy nhiên để thiết lập một mô hình định giá dựa trên những yếu tố hệ thống này là một điều vượt quá khả năng hiện tại của chúng ta. Mục tiêu nghiên cứu của các tác giả trong bài đơn thuần chỉ là xây dựng mô 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình mà trong đó TSSL cổ phiếu là một hàm số của các biến kinh tế vĩ mô với TSSL của các loại tài sản khác mà không phải cổ phiếu. Do đó, bài nghiên cứu này sẽ xem thị trường cổ phiếu là một biến nội sinh so với các thị trường khác. Dựa vào những tranh luận thường thấy trong lý thuyết thị trường vốn, chỉ các biến trạng thái kinh tế chung mới ảnh hưởng đến việc định giá của toàn bộ thị trường cổ phiếu.
Bất kỳ một biến hệ thống nào tác động đến hoạt động định giá của nền kinh tế hay tác động đến mức cổ tức cũng ảnh hưởng đến TSSL thị trường cổ phiếu. Hơn nữa, bất kỳ một biến nào cần thiết để mô tả bản chất tự nhiên của TSSL một cách hoàn thiện cũng sẽ là một phần trong các yếu tố rủi ro hệ thống. Một ví dụ về các biến này là một biến mà không có tác động trực tiếp lên dòng tiền ngắn hạn nhưng thực sự diễn đạt được sự thay đổi trong cơ hội đầu tư. Giá cổ phiếu được diễn đạt bằng giá trị chiết khấu của dòng cổ tức kỳ vọng: E (c ) p k Trong đó c đại diện cho dòng cổ tức còn k là hệ số chiết khấu.
Điều này ám chỉ rằng, TSSL của một thời kỳ nào đó được đo lường bởi: dp c d[ E (c )] dk c p p E (c ) k p Điều này cho thấy rằng, các yếu tố hệ thống mà tác động đến TSSL là những yếu tố làm thay đổi tỷ lệ chiết khấu k và dòng tiền kỳ vọng E(c). Tỷ lệ chiếu khấu được tính bằng bình quân lãi suất theo thời gian và nó thay đổi khi có sự thay đổi của lãi suất hoặc cấu trúc kỳ hạn đối với các kỳ hạn khác nhau.