Chương 1. Giới thiệu đề tài Chương 2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN 2. Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là dòng vốn đầu tư của một nhà đầu tư nước ngoài để có được quyền kiểm soát lâu dài đối với việc quản lý doanh nghiệp, và phải chiếm ít nhất 10% cổ phần có quyền biểu quyết trong một doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế không phải quốc gia của nhà đầu tư đang kinh doanh.
Theo đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là tổng vốn cổ phần, và bao gồm các khoản tái đầu tư của lợi nhuận, vốn dài hạn khác, và vốn ngắn hạn. Các thành phần này có thể theo dõi trong cán cân thanh toán của một quốc gia (World Bank, 2013). Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đo lường dưới dạng cổ phiếu hoặc dòng vốn. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới dạng cổ phiếu là dòng vốn tích lũy của nhà đầu tư có ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới dạng dòng vốn thì là những gì mà nhà đầu tư tạo ra trong một năm cụ thể, do đó, ở dưới dạng dòng vốn, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng chảy ra hoặc chảy vào quốc gia trong một năm cụ thể. Hơn thế nữa, theo Dunning và Lundan (2008), dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường bắt đầu với các động cơ, mục đích khác nhau của các công ty đa quốc gia. Chẳng hạn như tìm kiếm thị trường tiềm năng mới, tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, tìm kiếm các kiến thức mới và tìm kiếm sự hiệu quả mới. Trong đó, mục đích tìm kiếm thị trường mới có thể hiểu như là khi các công ty đa quốc gia thực hiện đầu tư sang các thị trường mới để có được một thị trường kinh doanh lớn hơn.
Khi các công ty đa quốc gia thực hiện đầu tư ở các quốc gia với mục đích khai thác tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia nhận đầu tư như dầu mỏ, vàng, quặng sắt…thì đây được xem như là mục đích tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nếu các công ty đa quốc gia thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài để có thể cải thiện kỹ năng thông qua việc nghiên cứu và phát triển cũng như có thể cải tiến công nghệ sản xuất kinh doanh thì đây được xem như là tìm kiếm kiến thức. Cuối cùng, tìm kiếm hiệu quả được xem như là động cơ chính mà các công ty đa quốc gia thực hiện di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh đến những quốc gia đang phát triển nơi mà họ có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tối thiểu hóa chi phí sản xuất do lực lượng lao động giá rẻ ở các quốc gia đang phát triển. * Vai trò của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các quốc gia tiếp nhận Đầu tiên, FDI là đóng vai trò quan trọng, được xem như nguồn vốn nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư góp phần tạo ra động lực tăng trưởng và phát triển.
Tiếp nhận số lượng lớn vốn đầu tư từ nước ngoài đối với các nước đang phát triển không chỉ tác động đến tổng cầu, mà còn tác động đến tổng cung của nền kinh tế. Đối với tổng cầu của nền kinh tế, khi có những biến đổi bất thường trong đầu tư sẽ có ảnh hưởng khá lớn về sản lượng cũng như thu nhập trong ngắn hạn. Đối với tổng cung, vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, các năng lực mới đi vào hoạt động sẽ làm cho tổng cung tăng lên, nhất là tổng cung trong dài hạn, dẫn đến tăng sản lượng tiềm năng, từ đó, giảm giá sản phẩm. Khi tăng sản lượng và giảm giá góp phần thúc đẩy tăng tiêu dùng, điều này kích thích phát triển sản xuất.
Đây chính là động lực để tăng tích lũy, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội. Thứ hai, FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tác động và thay đổi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói tại các nước đang phát triển, vì đó là nguyên nhân làm cho quy mô đầu tư bị hạn chế và kỹ thuật chậm cải tiến trong thời kỳ khoa học - kỹ thuật trên thế giới cũng như lực lượng sản xuất đang phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, để tận dụng được tối đa lợi thế, tiềm năng, quốc gia cần phải mở cửa giao thương với các nước nhằm tậm dụng những cơ hội phát huy và củng cố tiềm năng của quốc gia mình.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ ba, FDI có thể làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp giải quyết sự chênh lệch giữa các vùng, khu vực, lãnh thổ, góp phần hỗ trợ các khu vực phát triển kém xóa đói, giảm nghèo. Thu hút đầu tư góp phần phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa lý, kinh tế, chính trị,… của các vùng. Từ đó, thay đổi cơ cấu các ngành, cơ cấu lao động…, góp phần đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội tốt hơn.
Cuối cùng, FDI góp phần phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ của quốc gia. Các công ty đã thực hiện chuyển giao các công nghệ từ quốc gia của mình hay từ quốc gia khác cho quốc gia tiếp nhận đầu tư thông qua FDI. Thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, các quốc gia nhận được vốn đầu tư nước ngoài sẽ nhận được những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, đồng thời, nâng cao kỹ năng quản lý, chất lượng lao động. Dòng vốn viện trợ nƣớc ngoài Dòng vốn viện trợ phát triển chính thức hay còn được gọi là dòng vốn viện trợ nước ngoài là một trong các dòng vốn nước ngoài bên cạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và dòng vốn kiều hối (Makori và các cộng sự, 2015).
Dòng vốn viện trợ phát triển chính thức chảy từ các quốc gia đã phát triển hoặc các tổ chức thế giới đến các quốc gia đang phát triển dưới hình thức các khoản vay, các khoản ưu đãi về tài chính và trợ cấp. Dòng vốn viện trợ phát triển chính thức được chia làm hai loại chính: (1) các khoản vay hoặc trợ cấp được cấp bởi một nhà tài trợ (viện trợ song phương) và (2) các khoản vay hoặc trợ cấp được cấp bởi nhiều nhà tài trợ (viện trợ đa phương) (Ekanayake và Chatrna, 2008). Trong đó, viện trợ song phương được các cơ quan của các nước viện trợ thực hiện, chẳng hạn như Cơ quan hỗ trợ Phát triển chính thức của New Zealand (NZODA), Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID) hoặc Cơ quan Phát triển Quốc tế của Thụy Điển (SODA) và những quốc gia khác (Makori và các cộng sự, 2015). Trong khi đó, viện trợ đa phương là nguồn tài trợ hoặc nguồn vốn xuất phát từ các quốc gia phát triển nhưng được quản lý thông qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB) hoặc các tổ chức chuyên môn khác như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) hoặc Chương trình Lương thực Thế giới (WFP)… (Karras, 2006; OECD, 2012; Jayaraman và các cộng sự, 2016).
* Vai trò của dòng vốn viện trợ nước ngoài đối với các quốc gia nhận viện trợ Đầu tiên, ODA góp phần mang lại nguồn lực cho các quốc gia đang phát triển. Do phần lớn các quốc gia này phần lớn thiếu vốn nên khi có dòng vốn viện trợ vào quốc gia sẽ góp phần bổ sung thêm nguồn lực phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, nguồn viện trợ chảy vào các quốc gia đang phát triển giúp tăng vốn đầu tư và ngoại tệ, tạo điều kiện cho các quốc gia này tiếp cận thêm vốn từ các tổ chức quốc tế khác và đủ khả năng trả các khoản nợ đến hạn. Thứ hai, ODA cũng được xem là một trong các yếu tố hỗ trợ các quốc gia đang đối mặt với việc đồng nội tệ bị phá giá có khả năng khôi phục giá trị đồng tiền của quốc gia mình thông qua các khoản viện trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế.
Thứ ba, ODA hỗ trợ vốn cho các công ty nhỏ trong nước, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển thông qua hiệu quả đầu tư các nguồn vốn, thúc đẩy mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Cuối cùng, ODA giúp các quốc gia tiếp nhận viện trợ được nhập khẩu các thiết bị, máy móc cần thiết từ các nước phát triển phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đồng thời, quốc gia tiếp nhận viện trợ có khả năng gia nhập các tổ chức tài chính thế giới thông qua quốc gia viện trợ ODA, cũng như tạo điều kiện nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức tài chính khác trên thế giới. Một số quan điểm về tăng trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản lượng quốc gia (GNP) hay quy mô sản lượng quốc gia bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Tăng trưởng kinh tế được xét phụ thuộc 2 quá trình gồm: sự tích lũy tài sản như vốn, lao động, đất đai và việc đầu tư vào các tài sản này có năng suất hơn. Trong đó, trọng tâm là đầu tư và tiết kiệm, tuy nhiên, chỉ khi đầu tư có hiệu quả thì mới có thể thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, các yếu tố có vai trò nhất định tác động đến tăng trưởng kinh tế phải kể đến là các chính sách của chính phủ, thể chế, chính trị ổn định, kinh tế bền vững, đặc điểm địa lý, trình độ giáo dục và y tế. Đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước, và tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng phần trăm (%).
Cụ thể như sau: y = dY/Y × 100(%) Trong đó, Y là quy mô của nền kinh tế và y là tốc độ tăng trưởng.