Chương I sẽ trình bày những nội dung chung nhất của nghiên cứu bao gồm lý do thực hiện nghiên cứu, thực trạng vấn đề, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, nêu rõ phạm vi nghiên cứu, đối tượng tham gia khảo sát, cũng như thời gian khảo sát. Hơn nữa, chương này cho thấy những phát hiện mới, trình bày ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc của nghiên cứu. Đặc biệt, quy trình nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này để có cái nhìn tổng thể của các bước nghiên cứu.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Từ thực tiễn Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) và quyền được sống trong môi trường trong lành đang là vấn đề lớn không chỉ thách thức đối với nước ta, mà còn đối với nhiều nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới, nhất là ở những nước đang phát triển.
Có thể nói đây là kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như việc thu hút các dự án đầu tư để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, và chính việc đó giúp kinh tế tăng trưởng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, nhưng song song nó cũng kéo theo sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường (IUCN, 2012). Cùng lúc đó, Việt Nam đang thực hiện tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các DN được xem là đầu tàu trong việc cung cấp hàng hóa, tạo việc làm, kiếm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc tăng trưởng “nóng” về kinh tế và sự phát triển ồ ạt của các DN cũng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm đến môi trường xung quanh mà thế giới đang phải đối mặt, đồng thời làm giảm tài nguyên, nhiên liệu,. Nguồn khí thải gây hiệu ứng nhà kính được gây ra bởi các DN đặc biệt là các DNSX, ngoài khí thải ra các DN này cũng là nơi tiêu thụ chính tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và tạo ra các chất thải, khí thải độc hại gây nguy hiểm đáng kể đến sức khỏe của cộng đồng, xã hội (Ekins, 1993; Shrivastava & Hart, 1995).
Rất nhiều vấn đề môi trường gây bức xúc chưa được giải quyết triệt để thì lại xuất hiện thêm những vấn đề môi trường mới, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do nhận thức, ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường còn chưa cao khi hầu hết các DN chú trọng các lợi ích kinh tế và không quan tâm nhiều đến việc bảo vệ môi trường. Nước thải trong sản xuất không qua xử lý làm cho hầu hết các hồ, ao, kênh, mương, sông… chảy qua các đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm, có nơi nghiêm trọng, không những gây tác hại nghiêm trọng đến 1 sức khỏe và đời sống của người dân mà còn ảnh hưởng to lớn đến DN đặc biệt là hiệu quả tài chính (Nishant et al. Ngoài ra, còn do trình độ công nghệ còn lạc hậu của các doanh nghiệp (DN) nước ta, cùng với sự chậm đổi mới và tạo ra hiệu quả kinh tế thấp và ý thức trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường sống còn chưa cao, chưa được nhận thức đầy đủ tầm quan trọng. Các nước phát triển trên thế giới với xu thế phát triển xanh đã và đang thay đổi công nghệ mới, tập trung hướng tới phát triển DN áp dụng công nghệ sạch và xanh, thân thiện với môi trường, tránh gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời cắt giảm chi phí do chất thải gây ra, đảm bảo lợi nhuận lâu dài cho DN và phát triển bền vững.
Cùng với xu thế đổi mới chung của thế giới, Việt Nam đang đẩy mạnh việc thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế đổi mới phát triển từ chiều rộng tới chiều sâu, hướng tới đổi mới xanh, trong đó doanh nghiệp sản xuất (DNSX) được xác định là vai trò chủ đạo của quá trình chuyển đổi này nhằm tăng năng suất, tiết kiệm vòng đời sản phẩm, tăng tính bền vững và hưởng những ưu đãi từ chính phủ để đáp ứng nhu cầu xã hội và các qui định của chính phủ về vấn đề bảo vệ môi trường. Chính vì thế, DN thực hiện đổi mới trình độ công nghệ để sản xuất xanh sẽ chủ động trong việc kiểm soát các tác động môi trường trong quá trình sản xuất, nếu DN ngày nay thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường (BVMT) sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình, hướng tới phát triển xanh đang là mục tiếu và sự cấp thiết đối với toàn bộ DN ở nước ta. Sự cần thiết phải đổi mới xanh thể hiện qua các nghiên cứu trong nước và cả nước ngoài cho thấy rằng ĐMX là một mấu chốt quan trọng có thể giúp Việt Nam hướng tới phát triển nền kinh tế xanh và bền vững. Việc thực hiện đổi mới sản xuất xanh còn đặt ra cho các DN nhiều yêu cầu để phù hợp với xu thế phát triển chung, đồng thời còn giúp nâng cao tiềm năng, lợi thế và sức cạnh tranh các thị trường trong và ngoài nước.
Cụ thể, có tới 80% người tham gia khảo sát lo ngại tác hại lâu dài của các nguyên liệu nhân tạo và 79% sẵn sàng trả thêm tiền để mua các sản phẩm không chứa các nguyên liệu có chất phụ gia hoặc chất độc hại (Bộ Công Thương, 2017). Người tiêu dùng hiện nay ngày càng ưu tiên chọn lựa các mặt hàng có nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng sản phẩm rõ ràng. Do đó, DN có thể chiếm lĩnh thị phần tốt hơn với các sản phẩm chất lượng “xanh” tạo thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc hướng tới nâng tầm thương hiệu gắn với yếu tố xanh sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ thân thiện với môi trường, đưa ra các sản phẩm sạch hạn chế tối đa tác hạn đến môi trường ngày càng có vai trò quan trọng trong các chiến lược phát triển của doanh nghiệp ngày nay.
Thực vậy, đổi mới xanh được các nhà 2 nghiên cứu tuyên bố có thể giúp DN đạt được nhiều lợi ích đáng kể trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Đổi mới xanh không chỉ giúp DN cải thiện chất lượng tổng thể về hoạt động kinh doanh, sinh ra nhiều lợi nhuận, mà còn đạt được hiệu quả cùng với việc tăng nhu cầu về sản phẩm thân thiện môi trường của các khách hàng quan tâm đến môi trường (King & Lenox, 2002; Marcus & Fremeth, 2009; Li et al., 2016; Wong et al., 2020; Shahzad et al., 2020; Guo et al. Trước tiên, đổi mới xanh có thể tăng cường sự phòng ngừa ô nhiễm môi trường, cho phép DN giảm bớt chi phí vận hành và có thể sử dụng vật liệu tái chế nhằm giảm chi phí, tuân thủ môi trường, xử lý chất thải (Porter & Van der Linde, 1995). Tiếp theo, một DN thể hiện các sáng kiến tốt về môi trường nhiều hơn có khả năng có được danh tiếng tích cực hơn và được hưởng lợi từ giá cao và tăng doanh số do sự chấp thuận xã hội lớn hơn (Christmann, 2004; Bansal, 2005).
Ưu thế này cho phép các DN tạo ra các sản phẩm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh (Rivera, 2002). Do đó, việc đổi mới xanh trong hoạt động kinh doanh của DN có tác động tích cực đến lợi nhuận, danh tiếng, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả tài chính của DN trong thời buổi hiện nay (Gurlek & Tuna, 2017; Lin et al., 2019; Asadi et al., 2020; Zhang & Ma, 2021; Muangmee et al. Ngoài ra, ứng dụng của công nghệ thông tin vào sản xuất đã tác động to lớn đến môi trường; công nghiệp hóa phát triển theo hướng thế hệ thứ tư (Công nghiệp 4.0) thông qua sản xuất số hóa và thông minh, nhằm đạt được mức hiệu quả và năng suất cao hơn với ít nguyên vật liệu đầu vào hơn và chi phí thấp hơn (Chen et al.0 được hỗ trợ bằng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và lưu trữ dữ liệu (Nascimento et al. Theo nghĩa này, Công nghiệp 4.0 có thể được tóm tắt như một mạng lưới hợp tác với tám công nghệ cho phép chính: Hệ thống vật lý mạng (CPS), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn, Thực tế ảo (VR) / Thực tế tăng cường (AR), rô bốt thông minh, Trí tuệ nhân tạo công nghiệp (IAI) và Sản xuất phụ gia (AM).
Mặc dù, cuộc cách mạng công nghiệp mới này có một số tác động tiêu cực như tạo ra một lượng lớn chất thải điện tử, tăng tốc độ nhanh cạn kiệt của tài nguyên hay tạo ra lượng khí thải do tiêu thụ năng lượng của các công nghệ (de Sousa Jabbour et al., 2018; Berkhout et al., 2004; Kopp & Lange, 2019); công nghiệp 4.0 có thể mang lại nhiều cơ hội bền vững cho môi trường ngoài các lợi ích kinh tế (de Sousa Jabbour et al. IoT cho phép giám sát thời gian thực và thu thập dữ liệu tiêu thụ năng lượng, do đó tối ưu hóa và sử dụng tiết kiệm rất nhiều năng lượng khi sản xuất (Ang et al., 2017; Lins & Rabelo Oliveira, 2017). AM cho phép thiết kế và 3 sản xuất theo yêu cầu, góp phần giảm thiểu tài nguyên và chất thải (Mehrpouya et al. CPS cho phép một mạng lưới sản xuất minh bạch với thông tin liên lạc hiệu quả, do đó giảm lượng khí thải do vận chuyển tiết kiệm (Song & Moon, 2017; Thiede, 2018).
Kỹ thuật số hóa cho phép các quy trình sản xuất được tích hợp hoàn toàn, tự động hóa và quy trình sản xuất được tối ưu hóa, cũng như đem lại lợi ích cho các DN sản xuất về năng suất, tăng trưởng doanh thu, việc làm và đầu tư (Rüßmann et al. Đồng thời, sự phát triển theo hướng số hóa mang lại cơ hội cho sản xuất bền vững hơn với môi trường (Stock & Seliger, 2016). Ngoài, ra số hoá có thể mở ra tiềm năng đầy đủ của sản xuất xanh, thông qua số hóa toàn diện để cung cấp dữ liệu chính xác hơn, chất lượng cao hơn và quản lý sự kiện theo thời gian thực (Oláh et al. Stock và Seliger (2016) tuyên bố rằng việc phân bổ vật liệu, năng lượng và nước mang lại hiệu quả triệt để dựa trên các mô-đun tạo giá trị liên kết chéo thông minh.
Theo thống kê của Hiệp hội Kỹ sư Đức, số hóa có thể làm tăng 25% năng suất tài nguyên sử dụng (Kopp & Lange, 2019); nó cũng khẳng định rằng số hóa có khả năng giảm lượng khí thải carbon xuống 20%.