chương 1 trình bày tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến vấn đề đô thị hóa, sử dụng đất và tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất. Mục đích của chương này là định hướng cho luận án về khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến thay đổi sử dụng đất nông nghiệp 1. Các quan điểm về đô thị hóa, đô thị và khu vực ven đô Thuật ngữ “đô thị hóa” ra đời năm 1867 trong một tác phẩm của kỹ sư cầu đường người Tây Ban Nha Ildefonso Cerdà có tên là “Lý luận chung về đô thị hóa”.
Theo bà, đô thị hóa là một hiện tượng nhiều tầm và đa diện về kinh tế, xã hội, môi trường biểu hiện ở phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp, sản xuất hàng hóa, phân công lao động, chuyển đổi nơi ở và làm việc,…[9]. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cũng như các báo cáo hiện nay về vấn đề đô thị hóa đều lấy khía cạnh dễ nhận biết nhất của nhân khẩu học đó là sự tăng dần của dân số đô thị trên tổng dân số của một vùng, một quốc gia hoặc châu lục; hay xem xét vấn đề đô thị hóa thông qua hiện tượng nhập cư vào đô thị làm đô thị tăng lên về lượng và mở rộng về không gian để định nghĩa đô thị hóa [9]. Để xác định được các tiêu chuẩn của đô thị hóa phải hiểu được định nghĩa về đô thị. Các nhà khoa học định nghĩa về đô thị theo nhiều quan điểm chủ yếu là dựa trên địa vị chính trị, các thuộc tính về nhân khẩu học, các tham số kinh tế và hành vi văn hóa xã hội.
Do không có ngưỡng tiêu chuẩn tối thiểu cho việc xác định một khu vực được gọi là khu vực đô thị, nên mỗi quốc gia lại đưa ra một định nghĩa riêng, hiện nay đang tồn tại khoảng 30 định nghĩa khác nhau về đô thị [32, 79, 150, 156, 159, 174]. Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý, các học giả đã đưa ra định nghĩa đô thị dựa trên ngưỡng tối thiểu về lượng tập trung dân số và mật độ dân số [84, 150, 10 174]. Lấy tiêu chuẩn số dân tối thiểu cho một khu vực làm ngưỡng, nhiều nước đã đưa ra định nghĩa về đô thị là khu vực có số dân tối thiểu từ 2000 người trở lên như Tây Ban Nha, Cộng hòa Sec và Ethiopia [156]. Một số nước khác còn thêm chỉ tiêu về mật độ dân số để định nghĩa đô thị: ở Canada, khu vực đô thị phải có quy mô dân số từ 1000 người và mật độ dân số từ 400 người trên 1 km2 trở lên [156].
Để phân biệt nông thôn với đô thị, không chỉ dựa vào nhân khẩu học, mà còn dựa trên hoạt động kinh tế và chính trị của khu vực. Theo quan điểm của các nhà kinh tế, đô thị là khu vực có dân số chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ [159, 174]. Ở Ấn Độ, ngoài hai tiêu chí tổng số dân và mật độ dân số, họ còn thêm một tiêu chí nữa đó là ba phần tư dân số nam giới trưởng thành lao động phi nông nghiệp thì khu vực đó mới là đô thị [156]. Các nhà xã hội học và nhân chủng học kết nối đô thị với hành vi và mối quan hệ của con người.
Trịnh Duy Luận trích dẫn lập luận của Louis Wirth rằng: đặc trưng đô thị là các kiểu mẫu văn hóa, cấu trúc xã hội, đặc tính xã hội, cách sống tiêu biểu của khu vực thành thị khác biệt rõ rệt với nông thôn [4]. Đây cũng là tiêu chí để định nghĩa đô thị [118, 159, 174]. Ở Việt Nam, đô thị được định nghĩa theo quan điểm của quản lý, đô thị là một khu vực dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện [1, 5, 174]: - Về phân cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập. - Về trình độ phát triển đô thị, phải đạt được những tiêu chuẩn là trung tâm tổng hợp hoặc là trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy kinh tế của cả nước hay của một vùng lãnh thổ với quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên và đạt được một số tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng.
Hầu hết các tài liệu nghiên cứu đô thị hóa ở Việt Nam thiên về phân tích đô thị hóa ở khu vực đô thị. Trong nghiên cứu của Lê Du Phong, tác giả đưa ra một số chỉ tiêu định lượng và định tính cơ bản đánh giá mức độ đô thị hóa theo chiều sâu và chiều rộng cho khu vực đô thị [5]. Mức độ đô thị hóa cũng được Nguyễn Hữu 11 Đoàn đánh giá bằng việc xây dựng hệ thống tiêu chí và tiêu chuẩn cho toàn bộ đô thị lớn ở Việt Nam và tác giả lấy thực nghiệm đánh giá cho khu vực Hà Nội [2]. Báo cáo của Ngân hàng thế giới nhận định đô thị hóa thông qua đánh giá sự chuyển đổi ở năm khía cạnh bao gồm các sự chuyển đổi về hình thể, hành chính, phúc lợi, nhân khẩu và kinh tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mức độ và hình thức đô thị hóa, về chức năng của thành phố và không gian kinh tế- xã hội của nó.
Báo cáo khẳng định những chuyển đổi theo năm khía cạnh diễn ra trên toàn bộ hệ thống các thành phố của Việt Nam [169]. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa không chỉ xảy ra ở những khu vực được coi là đô thị, trên thực tế, sự hiện diện của đô thị hóa còn xuất hiện ở những khu vực không phải là không gian đô thị, mà ở cả khu vực nông thôn và khu vực ven đô [118, 152, 170]. Vùng ven đô là một vành đai chuyển tiếp giữa thành phố và nông thôn, chứa đựng sự giao thoa và tương tác giữa nông thôn và đô thị [127, 152, 170]. Nó là nơi tồn tại xen kẽ, đan xen các đặc tính đô thị và đặc tính nông thôn.
Vì vậy, trong một nghĩa nào đó, khu vực ven đô có thể được coi là vùng nông thôn bởi vì nó được đặc trưng bởi các khu định cư mật độ thấp, khu vực canh tác nông nghiệp và các dấu vết của lối sống nông thôn. Trong một nghĩa khác, khu vực này là khu vực đô thị bởi vì nó là không gian diễn ra các hoạt động công nghiệp hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời nơi này đang phải chịu áp lực ngày càng tăng của đô thị cũ. Theo Michael Leaf, khu vực ven đô là vùng có cảnh quan năng động, hỗn độn, chắp vá và liên tục biến đổi. Sự biến đổi này diễn ra chủ yếu theo hướng từ nông thôn sang đô thị [91].
Ví trí vùng ven đô trong cấu trúc phát triển của đô thị 12 Có thể coi khu vực ven đô là vùng đệm cho bước chuyển từ nông thôn sang thành thị, nơi phản ánh rõ nét nhất những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn. Nguyễn Duy Thắng cho rằng: những biến đổi về đô thị hóa ở khu vực ven đô có thể khác nhau đối với các nhóm xã hội và diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống như sử dụng đất, kiến trúc nhà cửa, quy mô và cơ cấu dân số, lao động và việc làm, sức khỏe và môi trường, biến đổi lối sống và phong tục tập quán [8]. Đô thị hóa nói chung và đô thị hóa ở khu vực ven đô lại có những đặc tính và sắc thái riêng. Đô thị hóa ở khu vực ven đô liên quan đến quá trình chuyển đổi của khu vực nông thôn nằm ngoại ô thành phố [7, 127, 152, 170, 171].
Đô thị hóa ở khu vực này nhấn mạnh sự hình thành lan tỏa và phát triển của đặc tính đô thị thay thế cho những đặc tính nông nghiệp, nông thôn vốn nổi trội trước khi bị đô thị hóa [7]. Quá trình đô thị hóa ở những khu vực này đang diễn ra theo các hướng như sau [7]: - Theo hướng xuất hiện tính đô thị ở một không gian nào đó để trở thành một thị tứ, rồi phát triển dần thành một trung tâm đô thị theo thời gian. - Theo chiều rộng, nghĩa là sự mở rộng không gian đô thị, làm cho tính đô thị lan tỏa sang khu vực nông thôn - Theo chiều sâu và cao, trong đó đô thị được nén lại, đẩy lên, làm cho tính đô thị đậm đặc hơn trong khi không làm mở rộng không gian đô thị - Theo hướng kết hợp của các hướng nêu trên 1. Các yếu tố của đô thị hóa ảnh hưởng đến thay đổi sử dụng đất nông nghiệp Các nghiên cứu thay đổi sử dụng đất thường xoay quanh câu hỏi trọng tâm về mối quan hệ giữa sử dụng đất và các yếu tố làm thay đổi sử dụng đất.
Thay đổi sử dụng đất bị tác động bởi rất nhiều nhân tố có nguồn gốc khác nhau [72]: yếu tố tự nhiên [90, 103], phạm vi địa lý [164], thời gian và cường độ [57]. Các yếu tố ảnh hưởng tới biến động sử dụng đất có thể được phân chia thành hai loại: - Nhân tố tác động của môi trường tự nhiên như khí hậu [36, 43, 90, 123, 144, 166], thủy văn [25], thổ nhưỡng [65, 115]. 13 - Nhân tố tác động của con người như dân số [37, 61, 163, 164], công nghệ [22, 86], hệ thống chính trị và kinh tế [88, 93, 105], văn hóa và tôn giáo [18, 38, 119], yếu tố dân tộc [30]. Như vậy, có thể thấy rằng thay đổi sử dụng đất là kết quả của hoạt động kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên trong quá trình khai thác, sử dụng của con người được thể hiện trong hình 1.
SỬ DỤNG ĐẤT DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA SỬ DỤNG ĐẤT DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ - XÃ HỘI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG CỦA CON NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT Hình 1. Thực trạng sử dụng đất [48] Trong các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi sử dụng đất trên đây, tác nhân kinh tế - xã hội được coi là tác nhân chính và chủ yếu [105, 167]. Một đặc điểm dễ nhận thấy, đó là việc chuyển đổi sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất đô thị, khu công nghiệp là hiện tượng phổ biến và điển hình xảy ra ở hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [5, 11, 137]. Chuyển đổi sử dụng đất là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế [149, 178].