chương 1 tác giả đã nêu lý do cần thiết để thực hiện nghiên cứu về tác động của định hướng khởi nghiệp và thuê ngoài nhân sự với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tp. Từ đây tác giả đã phác thảo các mục tiêu cũng như tổng quan về phương pháp nghiên cứu cần để thực hiện chủ đề này. Phần cuối chương là kết cấu mà luận văn cần thực hiện để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐI TRƯỚC Chương này tác giả tập trung giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quan đến định hướng khởi nghiệp, thuê ngoài nhân sự và hiệu quả hoạt động của các DNNVV.
Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu các nghiên cứu đi trước, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cần nghiên cứu về tác động của định hướng khởi nghiệp và thuê ngoài nhân sự đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV.1 Khởi nghiệp (Entrepreneur) Khởi nghiệp là một khái niệm khó định nghĩa, gắn liền với vai trò của các cá nhân doanh nhân (Entrepeneur) trong các lý thuyết kinh tế, tiêu biểu là hai trường phái: German và Austrian. Trường phái German, đại biểu là Schumpeter (1928) cho rằng doanh nhân là người tạo ra sự mất cân bằng thị trường bằng các hoạt động khởi nghiệp như: đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá, hủy diệt cái hiện hành và tạo ra sự phát triển kinh tế. Trường phái Austrian mà đại diện là Kizner (2009) lại cho rằng doanh nhân khởi nghiệp bằng cách nhận ra các nhu cầu chưa được thỏa mãn trên thị trường, tổ chức kết hợp các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ vậy, cung cầu dịch chuyển về cân bằng.
Trong cả hai trường hợp, doanh nhân khởi nghiệp phải chấp nhận rủi ro vì tính bất định của môi trường là yếu tố luôn hiện hữu và tác động đến kết quả hoạt động. Ở cấp vĩ mô, các nghiên cứu kinh tế thường đồng nhất khởi nghiệp với sự thành lập, tồn tại, phát triển của doanh nghiệp nhỏ và khảo sát sự đóng góp của chúng vào sự phát triển, tăng trưởng kinh tế (Acs và cộng sự, 2008; Praag và Versloot, 2007). Ở cấp cá nhân, các nghiên cứu quản trị thường tập trung giải thích và dự báo kết quả quá trình khởi nghiệp (tạo lập kinh doanh, đổi mới, sáng tạo, xác định và khai thác cơ hội) qua các yếu tố tính cách, tâm lý hay hành vi của doanh nhân (Maes, 2003; Rauch và Frese, 2000). Ở cấp tổ chức, khởi nghiệp công ty là một bộ phận của lý thuyết khởi nghiệp kết hợp lý thuyết quản trị chiến lược của tổ chức hiện hữu (Covin và Slevin, 1991; Maes, 2003).
Trong đó, khái niệm định 8 hướng khởi nghiệp (EO) được giới nghiên cứu thực nghiệm quan tâm hơn cả (Rauch và cộng sự , 2009; Wales và cộng sự, 2013). Khái niệm này giúp giải thích hiệu quả hoạt động của công ty trong môi trường biến động nhanh, mạnh, khó lường như hiện nay.2 Định hướng khởi nghiệp (Entrepreneurial orientation (EO)) Khởi nghiệp công ty được Mintzberg (1973) đề cập đầu tiên khi giới thiệu ba dạng tạo lập chiến lược (Strategy- Makinh) – là các quá trình mà tổ chức ra các quyết định quan trọng và liên kết chúng để hình thành chiến lược gồm: (1) Khởi nghiệp, (2) hoạch định, và (3) thích ứng. Tổ chức khởi nghiệp (Entrepreneurial Ognanization) luôn tìm kiếm cơ hội mới này thay vì giải quyết vấn đề; ra quyết định đặc trưng bởi các bước nhảy, đột phá thay vì tiệm tiến; đồng thời, quyền lực được tập trung và tăng trưởng luôn là mục tiêu chính. Sau đó, Miller (1983) cho rằng công ty là khởi nghiệp (Entrepreneurial Firm) khi hoạt động của nó luôn gắn liền với đổi mới sản phẩm, thị trường, thực hiện kinh doanh với ít nhiều mạo hiểm và luôn đi đầu đổi mới, chủ động để đánh bại đối thủ.
Theo Miller (1983), khởi nghiệp công ty là một khái niệm bậc cao gồm 3 thành phần đơn hướng có tương quan: Đổi mới, chủ động và chấp nhận rủi ro. Khởi nghiệp công ty càng được chú ý hơn khi Covin và Slevin (1989) đưa ra khái niệm phong thái chiến lược (Strategic Posture) được định nghĩa như định hướng cạnh tranh (khởi nghiệp – bảo thủ) tổng quát của công ty. Công ty có phong thái chiến lược khởi nghiệp luôn thể hiện sự chấp nhận rủi ro của quản trị cấp cao, ủng hộ thay đổi và đổi mới để giành lại lợi thế cạnh tranh và chủ động cạnh tranh quyết liệt với đối thủ, đặc trưng này đồng nhất với quan điểm công ty khởi nghiệp của Miller (1983) cho rằng chủ động, đổi mới, chấp nhận rủi ro là 3 đặc trưng không tách rời. Covin và Slevin (1989) đề xuất và khẳng định phong thái chiến lược khởi nghiệp có cấu trúc đơn hướng trong nghiên cứu thực nghiệm của mình.
Tiếp theo, Covin và Slevin (1989) đưa ra khái niệm khởi nghiệp công ty (Coporate Entrepreneurship- CE) trong một mô hình khái niệm tổng quát. Trong đó, khởi nghiệp công ty được định nghĩa là phong thái chiến lược khởi nghiệp của cả 9 công ty thể hiện qua 3 đặc trưng: (1) Khuynh hướng chấp nhận rủi ro; (2) Mở rộng tần suất đổi mới sản phẩm và khuynh hướng dẫn đầu công nghệ; (3) Hướng cạnh tranh chủ động. Trong khung khái niệm đề xuất, Colvin và Slevin (1991) cho rằng khởi nghiệp công ty cần đo lường qua hành vi và tác động đến hiệu quả hoạt động; trong khi đó, các yếu tố môi trường (như: Độ biến động, cường độ cạnh tranh) vừa là tiền tố của khởi nghiệp công ty, vừa là quan hệ giữa khởi nghiệp công ty và thành quả hoạt động. Lumpkin và Dess (1996) đề xuất khái niệm định hướng khởi nghiệp, đề cập đến quá trình và ra quyết định tạo lập kinh doanh mới: Gia nhập vào thị trường mới hoặc hiện hữu với sản phẩm/dịch vụ mới hoặc hiện hữu thông qua một doanh nghiệp hoàn toàn mới hoặc hiện hữu.
Chủ thể khởi nghiệp ở đây có thể là một công ty hay một đơn vị chiến lược kinh doanh. Lumpkin và Dess (1996) cho rằng định hướng khởi nghiệp có 5 đặc trưng gồm: (1) chủ động; (2) đổi mới; (3) chấp nhận rủi ro (như: Khởi nghiệp công ty), và bổ sung thêm: (4) tự chủ và (5) cạnh tranh quyết liệt. Theo hai học giả này, các nghiên cứu trước cho thấy doanh nhân có thể rất cẩn trọng và ngại rủi ro trong các tình huống cụ thể, công ty có thể thu lợi từ bắt chước hơn là đổi mới, hơn nữa, có rất nhiều loại hình hành vi khởi nghiệp. Do đó, định hướng khởi nghiệp được cho là gồm 5 thành phần độc lập có thể tác động khác nhau đến hiệu quả hoạt động của DN tùy thuộc vào bối cảnh; ngoài ra, các biến môi trường chỉ đóng vai trò điều tiết tác động của định hướng khởi nghiệp đến hiệu quả hoạt động mà thôi.
Như vậy, dù có một số thuật ngữ và định nghĩa cụ thể không đồng nhất nhưng về bản chất khởi nghiệp công ty là các quá trình, hành động và hoạt động mang tính chiến lược của cả công ty với 3 đặc trưng cốt lõi nhất: Chủ động, đổi mới và chấp nhận rủi ro. Sau nghiên cứu của Lumpkin và Dess (1996), khởi nghiệp công ty dưới thuật ngữ định hướng khởi nghiệp ngày càng được giới nghiên cứu thực nghiệm quan tâm và sử dụng rộng rãi để kiểm định cấu trúc từng các tiền tố, hệ quả và biến điều tiết (Covin và Wales, 2012; Rauch và cộng sự, 2009; Wales và cộng sự, 2013) 10 Làm rõ hơn vai trò đối với thành quả hoạt động, Covin và Miles (1999) cho rằng khởi nghiệp công ty có thể tạo ra các lợi thế cạnh tranh như: Khác biệt, dẫn giá, biến hóa đặc trưng hay phản ứng nhanh.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến EO Ở Việt Nam, bắt đầu từ những năm 1990, sức hút từ các cơ hội và lợi ích trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường đã tạo ra sự tăng trưởng đáng kể của số lượng DNNVV, dù hầu hết là nhỏ và siêu nhỏ với nguồn lực, trình độ hạn chế (Hakkal và Kokko, 2007). Cùng với sự tăng trưởng này là một môi trường cạnh tranh khốc liệt và hết sức biến động (Estrin và cộng sự, 2006; McMillan và Woodruff, 2003). Trong điều kiện đó, DNNVV Việt Nam có thể khắc phục hạn chế về nguồn lực của mình bằng cách xây dựng và thực thi các quá trình định hướng khởi nghiệp để tạo lợi thế cạnh tranh và đạt thành quả kinh doanh tốt ( Nguyễn Thành Long và Lê Nguyễn Hậu, 2018).
Tuy nhiên, DNNVV hoạt động trong nhiều ngành, nhiều môi trường cạnh tranh với cường độ, mức biến động và bất định rất khác nhau, chẳng hạn: Kinh doanh hàng tiêu dùng thông dụng có mức rủi ro thấp hơn kinh doanh địa ốc; tính đổi mới trong sản xuất lương thực không phải là yêu cầu tiên quyết cho thành công như sản xuất đồ chơi. Mặt khác, DNNVV trong nghiên cứu này là các doanh nghiệp độc lập, được trực tiếp điều hành bởi doanh nhân cũng là người chủ doanh nghiệp nên có thể xem là tính tự chủ như nhau; nội hàm cạnh tranh quyết liệt khá gần với chủ động và ít được khẳng định ở các nghiên cứu trước. Do đó cấu trúc đa hướng của Lumpkin và Dess (1996); Kristin và cộng sự (2018) với 3 yếu tố chính (chủ động, đổi mới, chấp nhận rủi ro) là phù hợp cho DNNVV ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau có ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng khởi nghiệp của DN. Cấu trúc này cũng đã được sử dụng với các mức độ khác nhau trong các nghiên cứu đi trước của Covin và Slevin, (1989, 1991); Kilenthong, Hultman, và Hills (2016); Kristin và cộng sự (2018) cụ thể hơn đó là: Chủ động (Covin và Slevin, (1989, 1991); Chen và cộng sự , 2007; Kraus và cộng sự , 2012); Đổi mới (Chen và cộng sự, 2007; Kilenthong, Hultman, và Hills, 2016); Chấp nhận rủi ro 11 (Covin và Slevin, (1989, 1991); Matchaba- Hove và cộng sự, 2015; Kristin và cộng sự , 2018) trong đó Tính chủ động: trong điều kiện môi trường cạnh tranh khốc liệt và hết sức biến động, sự chủ động tìm kiếm cơ hội để tạo dựng vùng thị trường- sản phẩm/dịch vụ mới cho mình trước các đối thủ (không nhận ra cơ hội hoặc không tích cực khai thác) sẽ giúp doanh nghiệp giành lợi thế phản ứng nhanh và rõ ràng EO của doanh nghiệp đã có sự chuẩn bị ngay từ đầu cho lĩnh vực hoạt động (Covin và Miles, 1999).
Ngoài ra, sự chủ động đưa ra các hành động, chiến lược cạnh tranh mới trước các đối thủ cũng giúp doanh nghiệp có lợi thế biến hóa để duy trì vị thế cạnh tranh ở thị trường hiện hữu (Covin và Miles, 1999).