chương 1) và 3 chương chính. Chương 2 làm rõ cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trước về chủ đề liên quan. Từ đó người nghiên cứu xác định khung phân tích để tiến hành nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết trong chương 3.
Chương này bắt đầu từ việc giới thiệu về địa bàn khảo sát, kết quả chọn mẫu và đặc tính của mẫu. Tiếp đến chương này phân tích nguyên nhân di cư và những tác động của di cư đến sản xuất nông nghiệp nơi xuất cư. Từ kết quả nghiên cứu đó, chương 4 nêu các kiến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƢƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2. Khái niệm di cƣ Di cư là sự thay đổi chỗ ở của một cá nhân hay nhóm người từ huyện này tới huyện khác hay tới nơi có khoảng cách xa hơn. Trong xã hội hiện đại, di cư thường diễn ra dưới hình thức di cư tự nguyện và di cư không tự nguyện (Sayad, 2004). Các xu hướng di cư chính gồm: nông thôn – nông thôn, nông thôn – đô thị, đô thị - đô thị, đô thị - nông thôn; di cư trong nước và di cư ngoài nước.
Nghiên cứu này chủ yếu tập trung phân tích hình thức di cư tự nguyện từ nông thôn ra thành thị. Vì trên thực tế Xuy Xá là một xã ở vùng nông thôn, NLĐ của xã đa phần di cư đến các thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ình Dương, v.v để tìm kiếm việc làm. Lý thuyết về di cƣ và dịch chuyển lao động giữa nông thôn – thành thị 2. Mô hình lực hút – lực đẩy của Ravenstein Di cư có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Vì vậy trên thực tiễn và cả về mặt lý thuyết đã có khá nhiều lý thuyết, quan điểm khác nhau về di cư. Thứ nhất, mô hình ―Lực đẩy – lực hút‖ được Ravenstein đưa ra vào năm 1889 (Nguyễn Tiến Dũng, 2011). Ravenstein đã khái quát các yếu tố tác động đến di cư tại nơi xuất cư thành các yếu tố lực đẩy và các yếu tố tác động đến di cư tại nơi nhập cư thành các yếu tố lực hút. Từ đó đưa ra mô hình ―Lực đẩy – lực hút‖ để lý giải về nguyên nhân di cư.
Khi nghiên cứu và phân tích các dòng di cư từ Ailen qua Anh đầu thế kỷ thứ XIX, Ravenstein cho rằng nguyên nhân di cư là do sự chênh lệch về việc làm, thu nhập, điều kiện sống, v.v giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư. Các yếu tố như thất nghiệp, thu nhập thấp, điều kiện sống không đảm bảo, cuộc sống bấp bênh là các yếu tố tạo lực đẩy di cư. Và các yếu tố như cơ hội làm việc tốt hơn, thu nhập cao, điều kiện sống, việc làm đảm bảo là các yếu tố tạo lực hút di cư. Ông cũng cho rằng chính các yếu tố lực hút là nguyên nhân quan trọng quyết định đến việc di cư của người lao động từ Ailen sang Anh làm việc.
Mô hình lực hút – lực đẩy của Ravenstein không chỉ phù hợp khi lý giải về di cư quốc tế mà còn rất phù hợp để lý giải nguyên nhân di cư lao động từ khu vực nông thôn ra thành thị mà nghiên cứu này đề cập tới. Vì chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị ở Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Nam hiện nay còn nhiều, xu hướng di cư từ nông thôn ra thành thị ngày càng tăng (Tổng cục thống kê, 2009). Thuyết kinh tế mới về di cƣ lao động Thứ hai, thuyết ― inh tế mới về di cư lao động‖, đại diện là Oded Stark. Thuyết này cho rằng di cư là lựa chọn duy lý hướng tới lợi ích kinh tế.
Di cư không phải quyết định đơn nhất của cá nhân nhưng đó là quyết định của hộ gia đình nhằm không những tối đa hóa lợi nhuận mà còn đa dạng sinh kế hộ, giảm thiểu rủi ro, ổn định thu nhập cho hộ gia đình (Abreu, 2010). Mạng lƣới di cƣ Thứ ba, lý thuyết ―Mạng lưới di cư‖, quan điểm của lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của các mối quan hệ xã hội trong việc thúc đẩy hiện tượng di cư (Mendola, 2006). Những mối quan hệ giữa các cá nhân như bạn bè, họ hàng, giữa người di cư và người không di cư có khả năng làm tăng di cư. Vì những người di cư đầu tiên rời khỏi nông thôn, họ dần dần thiết lập được một mạng lưới về cơ hội sống và làm việc trên thành phố.
Họ có thể hỗ trợ ban đầu, làm giảm rủi ro và chi phí cho những người tiếp theo. Mô hình kinh tế hai khu vực của Lewis Cuối cùng, nghiên cứu này cũng xem xét mô hình thặng dư lao động hai khu vực được Sir Arthur Lewis (1915) triển khai vào năm 1955. Lewis giả định nền kinh tế chỉ có hai khu vực, nếu đầu tư khoa học kỹ thuật, vốn và lao động trong khu vực nông nghiệp truyền thống thì có thể giúp tăng năng suất lao động trong khu vực này. Nhưng đến một thời điểm nào đó, khi năng suất biên của lao động bằng không thì tổng sản lượng trên mỗi đơn vị lao động không tăng.
hi đó khu vực nông nghiệp sẽ dư thừa lao động. Lực lượng lao động thặng dư này có thể chuyển sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm cung lương thực cho ngành hiện đại. hi đó mức lương ở khu vực nông nghiệp sẽ giúp ấn định mức lương cả trong khu vực công nghiệp. Như vậy một quốc gia có thể chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị để thực hiện công nghiệp hoá mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp, tổng GDP tăng lên.
Giới hạn trong lý thuyết của Lewis là quá đặt trọng tâm vào phát triển công nghiệp mà không quan tâm đến phát triển nông nghiệp. Sau này giới hạn đó được cải thiện bởi những nghiên cứu sâu hơn của các nhà kinh tế nổi tiếng khác như G. Các nhà kinh tế đó đã chỉ ra rằng khả năng tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp là có giới hạn. Khi nguồn lao động dư thừa trong nông nghiệp ngày càng cạn dần, nếu tiếp tục giảm lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- trong nông nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp, làm giá nông sản tăng và kéo theo tăng lương tương ứng trong khu vực công nghiệp (Nguyễn Thị Hà, 2011).
Như vậy lao động nông nghiệp chỉ chuyển dịch suôn sẻ sang công nghiệp trong giới hạn cung lao động nông nghiệp bằng cầu lao động nông nghiệp để không làm giảm sản lượng trong nông nghiệp. Do vậy, các quốc gia đang phát triển khi tiến hành công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng cần quan tâm thích đáng đến khu vực nông nghiệp. Tóm lại, các lý thuyết đã xem xét di cư dưới nhiều khía cạnh. Chính các góc nhìn khác nhau đó là cơ sở lý thuyết quan trọng bổ sung cho nhau, giúp người nghiên cứu có cái nhìn sâu sắc hơn khi tìm hiểu về di cư.
Dựa trên thuyết ―kinh tế mới về di cư‖, nghiên cứu này chọn đơn vị phân tích là hộ gia đình, và chú trọng đến mối liên hệ giữa người di cư với hộ gia đình. Dựa trên thuyết ―mạng lưới di cư‖, nghiên cứu này bổ sung thêm yếu tố quan hệ xã hội vào nhóm các yếu tố lực hút di cư. Ngoài ra, lý thuyết kinh tế hai khu vực giúp tạo thêm cơ sở lý luận cho nghiên cứu này khi tìm hiểu về chuyển dịch lao động giữa khu vực truyền thống và khu vực hiện đại. Lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm 2.
Nguyên n ân di cƣ Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân di cư. Hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học đều nhất trí cho rằng hiện tượng di cư có thể được giải thích chủ yếu bằng nguyên nhân kinh tế qua mô hình lực hút – lực đẩy. Ngoài ra, một số các yếu tố phi kinh tế như phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu ở nông thôn cũng thúc đẩy di cư (Đinh Văn Thông, 2010). Nghiên cứu về tác động của di cƣ đối với nông nghiệp nơi xuất cƣ Theo Kanliu (2011), xu hướng di cư cao ngày càng đẩy nhanh tốc độ tăng giá hàng nông sản.
Tại Trung Quốc, việc giảm lao động trong nông nghiệp tác động quan trọng đến quyết định SXNN. Thiếu lao động, ở vùng đồi núi chỉ còn lại người lớn tuổi, người dân chuyển từ sản xuất hai vụ xuống một vụ. Họ chỉ sản xuất đủ lương thực đáp ứng nhu cầu của hộ nên họ không có động cơ đầu tư nhiều vào đảm bảo nguồn cung lương thực cho thị trường. Ở vùng đồng bằng lao động giảm đi được bù đắp bằng đầu tư nhiều hơn cho máy móc, cơ giới hóa.
Tuy nhiên chi phí sản xuất ở vùng đồng bằng lại tăng gấp đôi. Mặt khác giảm lao động ở nông thôn dẫn đến xuất hiện một số việc làm tạm thời, làm tăng khả năng thu nhập tạm thời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- của hộ gia đình nên đã tác động tiêu cực đến sản lượng nông nghiệp, làm tăng giá hàng nông sản. Tại Nigeria, năm 2011 hai tác giả C. Ibezim (2011) cũng cho thấy di cư tác động tiêu cực đến lao động sẵn có trong nông nghiệp ở nông thôn.
Tỷ lệ di cư nông thôn – thành thị cao đã đặt ra những đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp ở Nigeria. Hai tác giả trên cũng cho rằng tại Nigeria, chính sách phát triển đã thiếu quan tâm đến đầu tư cho nông thôn và tạo việc làm cho thanh niên. Vì vậy các khuyến nghị chính sách được các tác giả đề cập là chính quyền địa phương, tiểu bang và liên bang nên hợp tác để đảm bảo khu vực nông thôn được tạo nhiều cơ hội phát triển hơn. Vì tại nông thôn, khi người dân nông thôn có việc làm tốt hơn, được trao quyền kinh tế, có trình độ giáo dục tốt hơn, họ sẽ giảm di cư từ nông thôn ra thành thị.
Do đó sẽ ổn định được nguồn lao động cho sản xuất nông nghiệp. Hai tác giả trên còn cho thấy có thể người lao động đã không nhìn thấy những cơ hội, tiềm năng khi ở nông thôn, và những khó khăn họ gặp ở nông thôn còn nhiều. Kết quả này khá giống như phát hiện của Onyeneke (2005), đó là dù có một tỷ lệ lớn người di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn thất nghiệp nhưng những người này vẫn ở lại thành thị vì họ cho rằng “đau khổ đô thị vẫn tốt hơn tai ương nông thôn‖.