CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1-Lịch sử hình thành và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1-Nguyên nhân hình thành và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư ttực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-FDI ) ngày càng có vai trò quan trọng đối với nước tiếp nhận đầu tư và nước đi đầu tư. Chính vì vai trò quan trọng của nó mà có rất nhiều quan điểm của các nhà kinh tế học nhằm lý giải nguyên nhân hình thành và phát triển của hiện tượng này. Hiện nay, chủ yếu có hai trường phái lý giải sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là quan điểm của các nhà kinh tế học tư bản và xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của các nhà kinh tế học tư bản,dại diện là Adam Smith (năm 1776), Thomas Malthus (năm 1798), David Ricardo (năm 1871) và sau này là Vernon (năm 1966),Kojima (năm 1973),Hymer (năm 1976), Dunning (năm 1988)…cho rằng hoạt động đầu tư quốc tế được hình thành và phát triển do một số nguyên nhân chủ yếu sau : Xuất phát từ học thuyết về phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh và thương mại quốc tế, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng khởi nguyên của quan hệ kinh tế giữa các quốc gia bắt nguồn từ hoạt động thương mại quốc tế.
Bằng học thuyết “Lợi thế so sánh –Comparative advantages”, Adam Smith (năm 1776) và David Ricardo (năm 1871) cho rằng mỗi quốc gia trên thế giới đều chuyên môn hoá sản xuất ra một hoặc một nhóm sản phẩm với chi phí sản xuất thấp hơn so với quốc gia khác và tiến hành xuất khẩu hàng hoá này sang quốc gia đó. Đồng thời, quốc gia này cũng dành cơ hội để quốc gia khác sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có chi phi sản xuất thấp hơn chi phi sản xuất do nước mình tiến hành mà không phụ thuộc vào quy mô sản xuất và trình độ phát triển. Lợi thế so sánh chính là nguyên nhân hình thành, phát triển quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau và cũng cho thấy trình độ phát triển về lực lượng sản xuất giữa các quốc gia cơ bản là rất khác nhau. Như 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, thương mại quốc tế là quan hệ đầu tiên, cơ bản và làm phát sinh quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia sau này.
Tuy nhiên, do có sự chênh lệch về lực lượng sản xuất giữa các quốc gia và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế đã hình thành và phát triển quan hệ đầu tư giữa các quốc gia. Dưới góc độ nước tiếp nhận đầu tư, để phát triển một số ngành sản xuất với điều kiện chưa cho phép hoặc sản xuất với chi phí cao thay vì phải nhập khẩu, quốc gia tiếp nhận đầu tư đã kêu gọi đầu tư từ những quốc gia có thế mạnh về những ngành công nghiệp đó. Dưới góc độ của nước đi đầu tư, những nước này mong muốn đầu tư tại những nước có trình độ phát triển thấp hơn để tận dụng chi phi sản xuất rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tại những nước công nghiệp phát triển, do phải đối mặt với môi trường cạnh tranh gay gắt nên tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất tại những quốc gia này là rất thấp.
Do vậy, các doanh nghiệp thường có xu hướng chuyển vốn, công nghệ và tài sản ra những nước có môi trường cạnh tranh kém hơn với chi phi sản xuất rẻ hơn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Các nước đang phát triển đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thường đối mặt với vấn đề thiếu vốn, công nghệ tiên tiến và trình độ quản lý. Chính vì những nhu cầu này đã tạo điều kiện cho việc di chuyển vốn, công nghệ và trình độ quản lý từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển. Xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng nên đầu tư nước ngoài là một biện pháp hữu hiệu nhằm xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường; tránh được hàng rào bảo hộ thuế quan và phi thuế quan; giảm chi phí vận chuyển hàng hoá.
Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Lênin cho rằng sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa trên xuất khẩu tư bản. Khi nghiên cứu giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, Lênin đã nêu ra một trong năm đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa đế quốc đó là xuất khẩu tư bản. Theo Lênin: “Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó chế dộ cạnh tranh hoàn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn thống trị là việc xuất khẩu hàng hoá. Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản hiện đại, trong đó tổ chức độc quyền nắm quyền thống trị là xuất khẩu tư bản”.
Xuất khẩu tư bản là một nhu cầu tất yếu khách quan. Bởi vì, tại một số nước phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản kếch sù và một bộ phận đã trở thành “tư bản dư thừa” do không tìm được nơi đầu tư có tỷ xuất lợi nhuận cao ở trong nước. Các nước phát triển muốn xuất khảu tư bản của mình để tranh thủ lao động, nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên rẻ…ở các nước kém phát triển, thiếu tư bản. Xét về khía cạnh đầu tư thì xuất khẩu tư bản tồn tại dưới hai hình thức đó là: xuất khẩu tư bản dưới hình thức gián tiếp hay đầu tư gián tiếp; xuất khẩu tư bản dưới hình thức trực tiếp hay đầu tư trực tiếp.
Xuất khẩu tư bản gián tiếp là hình thức đầu tư gián tiếp dưới dạng cho vay, thu lãi thông qua các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng quốc tế hoặc quốc gia mà các nhà tư bản cho các nước khác vay, chủ yếu là các nước thuộc địa để phát triển kinh tế. Xuất khẩu tư bản trực tiếp là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp tại các nước khác (các nước thuộc địa), có sự quản lý trực tiếp của các nhà tư bản với tài sản được các nhà tư bản đầu tư để xây dựng các nhà máy. Bên cạnh việc lý giải nguyên nhân của đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua xuất khẩu tư bản, các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thiết lập quan hệ đầu tư quốc tế từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa nhằm tìm kiếm lợi nhuận, khai thác tài nguyên thiên nhiên và duy trì sự áp bức bóc lột tại hệ thống thuộc địa do mình quản lý. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2-Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Khi nghiên cứu hoạt động đầu tư nước ngoài qua các thời kỳ lịch sử, cần tập trung nghiên cứu biến động của các yếu tố: thương mại quốc tế; di chuyển vốn và tài sản; công nghệ và di cư lao động.
Đây là những yếu tố bổ sung, đi kèm và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ đầu tư quốc tế trên thế giới. Các yếu tố này tuỳ thuộc vào mỗi thời kỳ lịch sử mà có thể được tạo điều kiện phát triển hay cản trở tại những quốc gia tiếp nhận đầu tư. Dựa vào tiêu chí mức độ phát triển đầu tư quốc tế, chính sách đầu tư quốc tế, tình hình chính trị trên thế giới, phân kỳ lịch sử đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới có thể tạm được chia thành các giai đoạn phát triển sau: Thứ nhất, giai đoạn từ năm 1870 đến năm 1913: Đây là kỷ nguyên vàng của quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế. Xuất khẩu không chỉ tăng ở những nước phát triển mà còn tăng ở những nước đang phát triển (châu Mỹ La tinh).
Di cư lao động quốc tế được tự do, không gặp bất cứ trở ngại nào và tăng nhanh. Cụ thể là từ năm 1870 đến năm 1915 đã có trên 36 triệu người rời Châu Âu và gần 2/3 số này đến Hoa Kỳ. Số người Trung Quốc và ấn Độ di cư đến một số nước như Miến Điện, Indonesia, Malaysia, Sri Lanka và Thái Lan trong thời kỳ này cũng tăng nhanh vượt cả số người di dư từ châu Âu. Trong thời kỳ này đã đánh dấu sự chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp thông qua cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở một số nước phương Tây như : cách mạng công nghiệp ở Anh (thế kỷ XVIII), cách mạng công nghiệp ở Pháp (thế kỷ XIX), cách mạng công nghiệp ở Đức (thế kỷ XIX)…đã tạo điều kiện phát triển khoa học, công nghệ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kỳ này đã dạt khoảng 14 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng vốn đầu tư trên toàn thế giới. Hoạt động đầu tư trực tiếp nứơc ngoài chủ yếu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và các nước kém phát triển hay nói cách khác, phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài là để khai thác thuộc địa. Do sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật, bên cạnh đầu tư vào các ngành công nghiệp truyền thống như : dệt may, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luyện kim…đã xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực mới (chế tạo máy, sản xuất thép và hoá học). Thứ hai, giai đoạn từ năm 1914 đén năm 1945: đây là thời kỳ xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và chiến tranh thế giới làn thứ hai.
Trong thời gian xảy ra hai cuộc chiến tranh này, những mối liên kết kinh tế giữa các quốc gia được thiết lập từ trước đã gần như bị xoá bỏ; hệ thống tài chính thế giới hoạt động không ổn định; dòng vốn đầu tư dài hạn từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước kém phát triển bị gián đoạn và hoạt động thương mại thế giới bị hạn chế. Tuy vậy,đầu tư nước ngoài là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của hai cuộc đại chiến này so với các lĩnh vực khác. Từ năm 1914 đến năm 1938 vốn FDI tăng gấp đôi, đạt 26 tỷ USD. Trong thời kỳ này đánh dấu sự thu hút vốn FDI của hoa Kỳ, lượng vốn FDI vào Hoa Kỳ đã tăng từ dưới 20% đến trên 28%, ngược lại vốn FDI của Anh giảm từ 45% xuống 40%.
Do ảnh hưởng của hai cuộc chiến tranh thế giới nên di cư lao động và phát triển khgoa học, công nghệ trong thời kỳ này cũng bị hạn chế.