Chương 1:Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của môi trường thể chế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến FDI và đưa ra nhận xét tổng quan đối với các nghiên cứu trên Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày thực trạng của vấn đề nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, trình bàyphương pháp nghiên cứu cụ thể và nguồn dữ liệu để thực hiện bài nghiên cứu. Chương 4:Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả các biến trong mô hình, tiến hành kiểm định đa cộng tuyến với tiêu chuẩn tương quan cặp tuyến 5 tính, kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình, kiểm định phương sai thay đổi phần dư và hiện tượng tự tương quan.
Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp hồi GMM, so sánh kết quả hồi quy và mức độ phù hợp với các kết quả hồi quy khác như (OLS, REM, FEM, FGLS), kết luận cụ thể về tác động của môi trường thể chế đối với FDI và độ biến động của FDI. Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về FDI và môi trường thể chế 2.1 Các khái niệm về FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hiện tượng kinh tế mang tính quy luật và không ngừng biến đổi cả về phạm vi và quy mô.
Theo quỹ tiền tệ thế giới - IMF (International Moneytary Fund) năm 1997 đã định nghĩa: “FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó, người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải bằng 10% tổng số cổ phần doanh nghiệp. Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) định nghĩa rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 1996) cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh mục tiêu có được một lợi ích lâu dài của một thực thể thường trú trong một nền kinh tế (chủ đầu tư trực tiếp) với một cư dân thực thể trong một nền kinh tế khác Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam 7 chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. Như vậy có thể hiểu rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay tổ chức nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh và sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.2Các khái niệm về môi trường thể chế Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khác nhau.
Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức - Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thành văn đang cai quản đời sống và con người". North, người được giải Nobel với công trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thể chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người”. Đầu thế kỷ XX, ở phương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩa thể chế đã đưa ra quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó. Walsh (2005) cho rằng thể chế là phản ánh "thỏa thuận sâu xa của xã hội như quyền sở hữu, luật pháp, truyền thống pháp lý, sự tin tưởng giữa các cá nhân, trách nhiệm của các Chính phủ dân chủ và nhân quyền" Theo cách hiểu của Ngân hàng thế giới thì thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức.
Vậy nên thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội. Thể chế mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng; nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng cầm quyền đã lựa chọn. Thảo luận chính sách gần đây của FETP (Fullbright Economics Teaching Program)“Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng”, bài thảo luận chính sách tại 8 Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy tháng 8/2013) cho rằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ.
Để phục hồi tăng trưởng, cần tận dụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân. Ngoài ra, thể chế còn được xem là một hệ thống những quy luật được thiết lập ra nhằm xây dựng nên các mối tương tác trong xã hội. Dựa trên đặc điểm, tính chất, thể chế được phân biệt thành hai loại: thể chế chính thức và thể chế phi chính thức. Thể chế chính thức là những điều luật, những quy định mang tính công khai, hệ thống hóa, chúng được xây dựng và chấp nhận như những chuẩn tắc.
Mặt khác thể chế phi chính thức được xã hội hình thành không bằng văn bản mà từ những thói quen, từ nền văn hóa và chia sẻ rộng rãi (Helmke và Levitsky, 2004). Bên cạnh đó Cousins lại cho rằng: thểchếchính thức được bảo đảm bởi pháp luật, tức là thực thi các quy định bởi nhà nước, trong khi các thểchếphi chính thức được duy trì theo thỏa thuận (How Do Rights Become Real? Formal and Informal Institutions in South Africa’s Land Reform, 1997) Mặt khác, thểchếphi chính thức là hệthống các quan niệm chung bền vững và sựhiểu biết mang tính tập thểnhưng không được hệthống hóa thành nhữngquy tắc và chuẩn mực, từ đó tạo nên sựgắn kết và phối hợp giữa các cá nhân trong một xã hội và phản ánh cấu trúc thực sựcủa xã hội đó (Scott, 2005). Những giá trịchung và những chuẩn mực không được hệthống như nền văn hoá, phong tục, tập quán. chính là những yếu tốquan trọng của thểchếphi chính thức.
Các cá nhân trong xã hội tuân theo các quy tắc và chuẩn mực này, và theo thời gian chúng được công nhận rộng rãi dần dần được chấp nhận và hệ thống hóa như những thểchếchính thức. Ngoài ra, thể chế chính thức còn được phân biệt thành ba loại đó là thể chế điều tiết, thể chế chính trị và thể chế kinh tế. Theo Dekia Rodrigo và cộng sự, thể chế điều tiết là các quy tắc và tiêu chuẩn nhằm hạn chế các rủi ro trong hoạt động của các tổ chức, là nền tảng đảm bảo việc thực hiện và sử dụng các công cụ quản lý phù hợp. Theo Powell (1990) thể chế chính trị xây dựng những quy tắc và tiêu chuẩn mà thông qua đó góp phần ổn định môi trường thể chế.
Thể chế chính trị giúp cho Chính phủ xác định được tiến trình quản lý nhà nước trong việc phân chia quyền lực và cách thức thể hiện một cách hiệu quả những quyền lực trên. Thể chế kinh tế được hiểu là những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế và các hành vi sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế. Thể chế kinh tế là những quy tắc, luật lệ được gắn kết với các chế tài xử lý vi phạm, cơ chế vận hành nền kinh tế cũng như các tổ chức kinh tế Như vậy, có thể hiểu thể chế là những quy tắc, những quy luật được hình thành và được chấp nhận như những quy tắc chung trong việc điều chỉnh xã hội. Môi trường thể chế thể hiện sâu sắc khuynh hướng chính trị, cơ chế vận hành cũng nhưcác chính sách xây dựng quốc gia đó.3 Các học thuyết về FDI trên phương diện các quốc gia tiếp nhận.
Bài nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đến các nước nhận đầu tư, từ đó góp phần làm rõ các nhân tố kiểm soát trong phân tích mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và chất lượng thể chế. 10 Lý thuyết lợi nhuận cận biên được đề xuất bởi Mac. Đây làmột mô hình lý thuyết phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn. Ông cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau).
Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước khi đầu tư.Lý thuyết này phù hợp và được các nhà kinh tế học thừa nhận trong giai đoạn những năm 1950.