Chương 1 - Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối tương quan giữa đầu tư nước ngoài và biến động tỷ giá.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng. Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả phân tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy.
Chương 5 - Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết về tỷ giá Theo O'Sullivan, Arthur; Steven M.
Sheffrin (2003) sách Nguyên lý kinh tế học, tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Tỷ giá cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác. Việc trao đổi mua bán không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà có sự tham gia của nhiều quốc gia khác nhau. Khi đó, các quan hệ thanh toán, tín dụng trong giao dịch ngoại thương giữa các bên đòi hỏi phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một trong hai nước nhưng cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba.
Vì vậy vấn đề chuyển đổi đồng tiền nước này sang nước khác để xác định giá trị giao dịch, thanh toán có ý nghĩa rất quan trọng. Để thực hiện việc chuyển đổi đó phải dựa vào một mức quy đổi xác định. Điều này đã nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế. Về hình thức, tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng đồng tiền nước khác, là hệ số quy đổi của một đồng tiền này sang đồng tiền khác.
Về nội dung, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ và quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia. Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá hối đoái có thể phân loại như sau: - Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng. - Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả của nước có đồng tiền định giá. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trong nghiên cứu và thực tế, tỷ giá hối đoái thực cũng như tính biến động của của tỷ giá hối đoái thực là chỉ số được quan tâm xem xét vì nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hay nắm giữ tiền.
Theo sách “Academic Dictionaries and Encyclopedias” định nghĩa về biến động tỷ giá hối đoái, một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trị của một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi. Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn cung cấp có sẵn. Nó sẽ trở nên ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn cung cấp có sẵn.Điều này không có nghĩa là người ta không còn muốn tiền, nó chỉ có nghĩa là họ muốn nắm giữ của cải của họ trong một số hình thức khác, có thể là một đồng tiền khác. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái như lãi suất, lạm phát, nợ công, thâm hụt tài khoản vãng lai, chính sách tiền tệ… Tuy nhiên, ở góc độ bài nghiên cứu này tác giá chỉ tập trung xem xét tác động nhân đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực.
Vì vậy các yếu tố còn lại được xem xét trong mối quan hệ tương tác với đầu tư nước ngoài mà không xem xét độc lập khỏi mô hình nghiên cứu chính.2 Lý thuyết về đầu tư nước ngoài Đầu tưnước ngoài bao gồm các dòng vốn từ một quốc gia khác để đổi lấy cổ phần sở hữu đáng kể ở các công ty trong nước hoặc các tài sản khác trong nước. Thông thường, đầu tư nước ngoài biểu thị rằng người nước ngoài có vai trò khá tích cực trong quản lý như là một trách nhiệm cho đầu tư của họ. Theo như Almukhtar Al-Abri Hamid Baghestani (2015) tiếp cận, đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp nước ngoài và nợ nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước chủ nhà hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nước nhận đầu tư).
Có rất nhiều khái niệm khác nhau trên thế giới, nhưng có thể kể đến các khái niệm sau: Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF định nghĩa “đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.” Theo tổ chức thương mại thế giới WTO “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác ( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay các chi nhánh công ty”. Đầu tư gián tiếp nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài xúc tiến mua và nắm giữ cổ phiếu theo danh mục đầu tưđược phát hành từ các công ty nội địa. Nợ nước ngoài Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm công tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”. Theo khái niệm này,nợnước ngoài gắn liền với khái niệm đối tượng cư trú nước ngoài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo như Almukhtar Al-Abri Hamid Baghestani (2015) nợ nước ngoài được hiểu đơn giản là các khoản vay mượn của công ty, chính phủ và các ngân hàng trong nội địa. Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó hoặc những đồng tiền mạnh nên khi tỷ giá hối đoái thựctăng lên cũng đồng nghĩa với sự tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước, đặc biệt các nước đang phát triển vay nợ nhiều càng phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo được tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài của quốc gia mình.3 Lý thuyết đầu tư nước ngoài tác động tới biến động tỷ giá Tỷ giá về cơ bản thể hiện giá trị của đồng tiền các nước, mà tiền tệ cũng là một loại hàng hóa đặc biệt cho nên tỷ giá hối đoáicũng bị ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Đối với cung của một loại hàng hoá bất kỳ nào thì sự thay đổi cung của hàng hoá đó luôn chịu giới hạn nhất định nhưng cung của tiền có thể tăng đến vô hạn do ngân hàng trung ương có thể phát hành tiền với một số lượng rất lớn.
Ngược lại cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, tích trữ, đầu cơ nên chúng ta có thể lượng ước được và tính toán được lượng cầu hàng hoá nhưng đối với tiền thì không, cầu tiền là vô hạn do nhu cầu về tiền của người dân luôn lớn. Do vậy, cung và cầu của tiền luôn thay đổi ảnh hưởng, tác động tới sự thay đổi của tỷ giá hối đoái: Khi cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ tăng tỷ giá hối đoái tăng. Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ giảm tỷ giá hối đoáigiảm. Mọi sựthay đổi về cung và cầu ngoại tệ trên thị trường đều dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng và tác động mạnh tỷ giá hối đoái.
Cung ngoại tệ trên thị trường được cung cấp bởi nhiều cách thức như: nguồn vốn ODA, FDI, FPI, dự trữ ngoại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hối của ngân hàng trung ương, kiều hối. Cầu ngoại tệ trên thị trường là nhu cầu ngoại tệ sử dụng cho các hoạt động xuất khẩu, du lịch,… Bên cạnh đó sự tác động của các hàng hóa thay thế trên thị trường như vàng với dầu mỏ cũng ảnh hưởng tới cung, cầu của ngoại tệ do yếu tố đầu tư. Quan hệ cung cầu là một nhân tố chính và quan trọng nhất tác động mạnh mẽ tới tỷ giá hối đoái. Thông qua cung cầu tỷ giá có thể được xác định một cách rõ ràng và nhanh chóng.
Vì vậy, ngân hàng trung ương cần có những quyết định phù hợp tác động tới cung cầu ngoại tệ trên thị trường để đảm bảo chính sách duy trì được một tỷ giá hối đoáihợp lý để nền kinh tế phát triển được ổn định. Như vậy, xét trên góc độ lý thuyết cơ bản, FDI tăng kéo theo cung ngoại tệ tăng dẫn đến tỷ giá giảm, đồng nội tệ chịu sức ép tăng giá. Ngược lại, tỷ giá hối đoái tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh.