Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm về đầu tư: Đầu tư là một thuật ngữ được nhiều tác giả định nghĩa với nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển Quản lý ngân hàng (do Nhà xuất bản ngoại văn Viện tiền tệ tín dụng ấn hành) thì tuỳ theo quan điểm, có ba khái niệm chính về đầu tư:. Theo quan điểm kinh tế: đầu tư là tạo một vốn cố định tham gia vào hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.
Đây là vấn đề tích lũy các yếu tố vật lý chủ yếu về sản xuất hay thương mại. Theo quan điểm tài chính: đầu tư là làm bất động một số vốn nhằm rút ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp. Khái niệm này, ngoài việc tạo ra các tài sản còn bao gồm các chi tiêu không tham gia trực tiếp vào hoạt động của xí nghiệp như nghiên cứu, đào tạo nhân viên. Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân bổ một khoản chi vào một trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán.
Theo các tác giả của Từ điển Quản lý tài chính ngân hàng thì rõ ràng khái niệm đầu tư không thể tách khỏi khái niệm thời gian, thời gian càng dài thì việc bỏ vốn ra đầu tư càng gặp nhiều rủi ro. Theo “Tài chính doanh nghiệp hiện đại: “Đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắn chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai” (Trần Ngọc Thơ, 2007, Nhà xuất bản Thống kê). Khái niệm đầu tư này đề cập đến ba yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi ra và yếu tố lợi nhuận và đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng, bao gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực. “Giá trị” trong khái niệm này có thể hiểu là những giá trị có thể định lượng được (vốn, tài sản…) và cả những giá trị không thể định lượng (con người, hiệu quả xã hội…).
7 Tuy có nhiều quan điểm về đầu tư nhưng có thể hiểu một cách đơn giản “đầu tư là một hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai”. Cơ cấu đầu tư Cơ cấu đầu tư là cơ cấu của các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồn vốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn… quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại giữa các bộ phận trong không gian và thời gian, vận động theo hướng hình thành một cơ cấu đầu tư hợp lý và tạo ra những tiềm lực hơn về mọi mặt kinh tế - xã hội (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2007). Các loại cơ cấu đầu tư: + Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn: Trên phương diện vĩ mô, có một số loại nguồn vốn chủ yếu sau đây: - Đầu tư khu vực nhà nước: + Vốn ngân sách nhà nước: Là nguồn vốn được trích lâp từ ngân sách của Nhà nước chi cho các hoạt động đầu tư. Đây là một nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và thường được đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước.
+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: nguồn vốn này có vai trò quan trọng trong phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn này, nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế của các ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Nguồn vốn còn được phân bổ để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội. + Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
- Đầu tư khu vực tư nhân: + Vốn đầu tư tư nhân và dân cư: bao gồm phần tiết kiệm của dân của và phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập của các hộ gia đình. Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư, chính sách 8 động viên của nhà nước thông qua thuế thu nhập và các khoản đóng góp đối với xã hội. + Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng ở nước nhận đầu tư. + Cơ cấu đầu tư theo ngành Cơ cấu đầu tư theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngành kinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành, thể hiện việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chính sách đầu tư đối với từng ngành trong một thời kỳ nhất định. Có nhiều cách tiếp cận cơ cấu đầu tư theo ngành. Trước hết, có thể xem xét cơ cấu đầu tư theo hai nhóm ngành: sản xuất sản phẩm xã hội và nhóm ngành kết cấu hạ tầng.
Mục đích là nghiên cứu tính hợp lý của đầu tư cho từng nhóm ngành. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước, cần có tỷ lệ hợp lý vì nếu quá tập trung đầu tư cho cơ sở hạ tầng, không chú ý đúng mức đến đầu tư sản xuất kinh doanh thì sẽ khó hoặc không có tăng trưởng. Thứ hai, có thể nghiên cứu cơ cấu đầu tư theo 3 nhóm ngành: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Mục đích là đánh giá, phân tích tình hình đầu tư, thực hiện đường lối công nghiệp hóa - hiện đạu hóa của Đảng, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ, chú ý đầu tư phát triển nông nghiệp hợp lý vì ở nước ta hiện nay nông dân chiếm tỷ trọng lớn và nông nghiệp nông thôn có vị trí rất quan trọng trong tiến trình phát triển.
Tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Theo “Kinh tế phát triển”: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định” (Đinh Phi Hổ, 2006, Nhà xuất bản thống kê). Đo lường tăng trưởng kinh tế Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, trước đây người ta đo lường tổng của cải xã hội tạo ra trong thời kỳ nhất định bằng hai đại lượng chính: GNP (tổng sản phẩm 9 quốc dân) và GDP (tổng sản phẩm quốc nội). GDP là tổng giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ cuối cùng được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), không phân biệt nguồn vốn và chủ sở hữu ở trong nước hay nước ngoài.
Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 1. Tác động của tốc độ tăng đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở cả hai mặt: tổng cung và tổng cầu. Trong hàm tổng cầu thì đầu tư là một thành phần của tổng cầu. Hàm tổng cầu có dạng như sau: Y= C+I +G+X-M (1) Trong đó: Y là sản lượng hay thu nhập quốc dân; C là tiêu dùng dân cư, I là đầu tư, G là chi tiêu của nhà nước.
X là xuất khẩu và M là nhập khẩu. Từ đẳng thức (1) ở trên chúng ta thấy rằng khi đầu tư (I) tăng lên thì trực tiếp làm cho thu nhập quốc dân (Y) tăng lên. Theo lý thuyết Keynes thì khi đầu tư tăng lên một đơn vị thì làm cho Y tăng hơn một đơn vị. Ảnh hưởng khác của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế thông qua tổng cung thể hiện ở chỗ là: vốn (capital) là một yếu tố đầu vào (input) cơ bản của quá trình sản xuất.
Vốn được kết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá trình sản xuất, sẽ tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Nhiều nghiên cứu đi đến kết luận vốn là nhân tố quan trọng nhất tạo ra tăng trưởng kinh tế. Vốn không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế với tư cách là đầu vào của sản xuất (đóng góp về mặt lượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp thông qua việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật do các đầu tư mới mang lại, do lợi thế kinh tế nhờ quy mô lớn (economies of scale) - tức là với một số ngành, việc đầu tư mở rộng quy mô sẽ làm giảm chi phí sản xuất – do chuyên môn hóa… đây là những đóng góp về “chất” của đầu tư, tức là hiệu quả của nền kinh tế đã được nâng cao. Tác động của cơ cấu đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 1.
Tác động của cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 1 * Đầu tư khu vực nhà nước (đầu tư công) Để thấy vai trò của nhà nước trong đầu tư công, trước tiên hãy xem xét một số quan điểm dưới đây. - Quan điểm của trường phái tân cổ điển Quan điểm này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào quá trình phân bổ nguồn lực mà sự vận động của thị trường trong quá trình phân bổ nguồn lực mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ nên dừng lại ở mức cung cấp hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạn tầng xã hội mà nếu để thị trường tư nhân vận động thì không thể đáp ứng được. Lý thuyết tân cổ điển được xây dựng trên giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo tuy nhiên trên thực tế đây là điều hầu như không thể có được.
- Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước Quan điểm này cho rằng quá trình tự điều tiết của thị trường sẽ không đem lại kết quả tối ưu mong đợi do việc tồn tại sự không hoàn hảo thị trường đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển đều có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên nếu để tự thân thị trường vận động thì không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ được. Chuyển dịch cơ cấu là nội dung cơ bản của tiến trình công nghịêp hóa và nhà nước cần phải tạo ra sự khởi động ban đầu để hình thành nên các ngành công nghiệp.