CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG DÀNH CHO HỘ NGHÈO 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TÍN DỤNG VI MÔ Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp các khoản vay nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo, người có thu nhập thấp có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng khó tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức. Hai cơ chế chính cho việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các khách hàng đó là: Một là dựa trên mối quan hệ nghiệp vụ ngân hàng cho các đối tượng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và hai là dựa trên mô hình nhóm, ở đó họ có cùng mục đích vay và cùng sử dụng những dịch vụ khác được tổ chức tín dụng cung cấp.
Tín dụng vi mô là việc cho vay khoản tiền có giá trị nhỏ đối với hộ nghèo, những người thu nhập thấp, thường những đối tượng này thiếu tài sản thế chấp. Nó được thiết kế để thúc đẩy tinh thần sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo và cũng thường để đem lại sự bình đẳng trong xã hội. Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ. Ở Việt Nam, có nhiều tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ tài chính vi mô được chia ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Khu vực chính thức gồm hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn. Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội. Khu vực phi chính thức là các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí cho vay nặng lãi. Trong các tổ chức tín dụng vừa nêu trên thì Ngân hàng chính sách xã hội có số lượng khách hàng được hưởng dịch vụ tài chính vi mô là hộ nghèo chiếm nhiều nhất và có nguồn gốc là Ngân hàng phục vụ người nghèo.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Nguồn vốn cho các chương trình tín dụng vi mô có vai trò quan trọng cho công tác xóa đói giảm nghèo nói chung và người nghèo nói riêng, chính vì thế đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành, các nhà làm chính sách, những người thực hiện chính sách cũng như các nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu ở những góc độ và cách tiếp cận với các phương pháp khác nhau. Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế. Có nhiều vốn sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao mức sống cho người nghèo. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững.
WB (1995) đã khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo đói ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay tín dụng ở nông thôn Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi, các tác giả Yasmine F. Khandker (2005), Jonathan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Morduch, Barbara Haley (2002) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp họ thoát nghèo.
Ryu Fukui, Gilberto M. Llanto (2003): Vai trò của hoạt động tín dụng cho người nghèo thể hiện qua sự đóng góp của nó vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tác động của sự bất ổn kinh tế và tăng tính tự chủ cho các hộ nghèo. Marget Madajewicz- Colombia University (1999) và James Copestake, Sonia Blalotra (2000) nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ giúp họ tự làm việc cho chính mình và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh nhỏ, đó chính là cơ hội để họ thoát nghèo. Một số nghiên cứu khác ở Việt Nam có liên quan mà đề tài quan tâm nhất là: - Nghiên cứu đánh giá tiếp cận nguồn tín dụng của người nghèo ở nông thôn: Trong năm 2008, Trung tâm phát triển và hội nhập với sự tài trợ của tổ chức Action Aid Vietnam đã thực hiện dự án: Nghiên cứu về tài chính vi mô và sự tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn sau khi Việt Nam gia nhập WTO do nhóm tác giả Hà Hoàng Hợp, Nguyễn Minh Hương và Ngô Thị Minh Hương nghiên cứu đánh giá những cơ hội và tác động có thể xảy ra của tự do hoá thương mại đến các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo ở Việt Nam.
Các mục tiêu cụ thể là: Xác định khả năng tiếp cận của người nghèo và những người có nguy cơ bị gạt ra khỏi xã hội (yếu thế với các dịch vụ tài chính từ khi Việt Nam là thành viên của WTO); Đánh giá những cơ hội, thách thức và những rủi ro tiềm năng đối với các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam, gồm quản lý và hoạt động, khả năng tự vững, các khoản quỹ mang tính thị trường và phát triển bền vững. Đề xuất cơ chế dịch vụ tài chính thích hợp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đến nguồn tín dụng sản xuất và tiếp thị với chi phí chấp nhận được. Nghiên cứu này gồm 3 phần: (1) Rà soát những chính sách liên quan và khung chính sách các lĩnh vực ngân hàng và tài chính vi mô ở Việt Nam khi gia nhập WTO; (2) Nhìn lại tình hình các tổ chức tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 chính vi mô và các thành viên của M7 để tìm hiều những vấn đề tồn tại. Đồng thời, báo cáo cũng trình bày nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn ở các nước khác trong khung cảnh tự do hóa thương mại.
Nghiên cứu cũng rà soát thách thức và cơ hội cho các tổ chức này; (3) Tập hợp các bài học về thành công và thất bại từ các nước trong khu vực. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô ở Philippines nêu rõ vai trò của chính phủ và những đổi mới tài chính trong việc tiếp cận ở nông thôn và nhận định rằng những đổi mới tài chính sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo với tín dụng ở nông thôn và làm giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu ở một số tỉnh trong 7 địa bàn của M7 để có sự phản hồi của người dân và các thể chế tín dụng vi mô là tỉnh Sơn La (Mai Sơn), tỉnh Quảng Ninh (Đông Triều và Uông Bí), tỉnh Ninh Thuận (Ninh Phước), nhóm nghiên cứu nhận thấy người dân và cả cán bộ địa phương nhận thức về WTO và các tác động của nó còn rất thấp. Điều này có thể hạn chế tới việc ở cấp cơ sở, sự chuẩn bị sẵn sàng và phương thức đối phó với các tác động bất lợi của WTO chưa tốt.“ Bằng cách tăng cường nhận thức về Tài chính vi mô”, chúng ta có thể đẩy mạnh quá trình vốn hóa và giảm nghèo tốt hơn.
- Nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng vi mô: Hoàng Hữu Hòa và Nguyễn Lê Hiệp (2007), nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo. Từ kết quả nghiên cứu này đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công cụ tín dụng trong việc thực hiện chiến lược xóa đói, giảm nghèo ở 2 xã và 1 thị trấn đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau ở huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế và trên cơ sở đó chọn ngẫu nhiên ở mỗi vùng là 30 hộ nghèo có vay vốn tín dụng để điều tra thu thập thông tin. Nhóm nghiên cứu đã lượng hóa tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo trong quá trình xóa đói, giảm nghèo. Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 phương pháp hồi quy tương quan với các kiểm định thống kê phù hợp được tính toán bằng phần mềm SPSS và EVIEWS.
Trong đó tập trung phân tích đánh giá các vấn đề có liên quan tới sử dụng vốn vay như: (1) Mức vốn vay và các tổ chức tín dụng cho vay; (2) Tác động của vốn vay đối với việc gia tăng tư liệu sản xuất của hộ nghèo, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập khá chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê và là quan hệ thuận. Hệ số hồi quy (Coefficent)= 0,505 nghĩa là khi mức vốn vay bình quân/lao động tăng lên 1 triệu đồng thì giá trị TLSX bình quân/lao động tăng lên 0,505 triệu đồng trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Việc đầu tư mua sắm TLSX là một trong những mục đích vay vốn của hộ nghèo. Nhờ đó, giúp họ khai thác tốt mọi tiềm năng sẵn có như sức lao động, thời gian nhàn rỗi, tài nguyên đất đai, mặt nước., chủ động tự tạo việc làm cho chính mình, góp phần tăng thu nhập và tiến tới thoát nghèo.
tín dụng tác động đến thu nhập của hộ nghèo rõ nét hơn ở trong dài hạn và ở những mức vốn vay cao hơn. Những hộ nghèo nào được tiếp cận với vốn tín dụng sớm hơn, có mức vốn vay nhiều hơn thì xác suất thoát nghèo cao hơn.