chương 1, sinh viên đã tổng hợp lại các nghiên cứu liên quan đến chính sách tiền tệ, thanh khoản thị trường và đặc biệt là các nghiên cứu tìm hiểu về ảnh hưởng của CSTT đến thanh khoản TTCK. Các bài nghiên cứu được sinh viên tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy và chính thống ở trong nước cũng như nghiên cứu nước ngoài. Nhờ các nghiên cứu trên, sinh viên có thể xác định được các yếu tố, chiều tác động cũng như các mô hình nghiên cứu thực nghiệm áp dụng cho mỗi nước là khác nhau, tùy vào đặc điểm cũng như tình hình của từng quốc gia trong từng giai đoạn. Từ đó có hướng phát triển cho bài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của sinh viên.
13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN TÍNH THANH KHOẢN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Tổng quan về Chính sách tiền tệ 2. Khái niệm Chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một trong hai chính sách chính kinh tế vĩ mô quan trọng mà cơ quan chức năng sử dụng nhằm tác động đến nhịp độ và làm thay đổi định hướng toàn bộ hoạt động của nền kinh tế (Benjamin M. Yeyati và Sturzenegger (2010) định nghĩa: “CSTT là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ, thường hướng tới một mức lãi suất mong muốn để đạt được mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế”.
Điều 2 của Luật Ngân hàng Nhà nước được Quốc hội thông qua năm 1997 chỉ rõ “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân”. Cho đến năm 2010, định nghĩa này đã được Nhà nước sửa đổi và thông qua theo điều 3 Luật NHNN Việt Nam: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Để đạt được các mục tiêu về tăng trưởng và phát triển kinh tế, các quốc gia đều phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách tiền tệ. Như vậy, chính sách tiền tệ đóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô cũng như trong quá trình điều hành vĩ mô của Nhà nước.
Khi điều hành chính sách tiền tệ, thông qua các công cụ, NHTW chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất chính sách nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội để ra (Nguyễn Văn Tiến, 2016). Như vậy tóm lại, Chính sách tiền tệ do NHTW khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, 14 tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế. Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: một là, chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chống thất nghiệp); hai là, chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền). Mục tiêu của chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ có ba loại mục tiêu bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng.
Trong đó, mục tiêu cuối cùng là các biến số cuối cùng như: lạm phát thấp và ổn định, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất, ổn định thị trường ngoại hối,. mà các nhà hoạch định chính sách muốn đạt được khi điều chỉnh các công cụ chính sách tiền tệ. Còn mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung gian là các chỉ tiêu có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu cuối cùng nhằm hỗ trợ đặt được mục tiêu cuối cùng đó.1: Mối liên hệ giữa các mục tiêu của CSTT Nguồn: F. S và Eakins (2013) Để đảm bảo điều hành CSTT đi đúng hướng và hiệu lực, NHTW thường xây dựng khung CSTT cho quốc gia về dài hạn.
Tại mỗi thời điểm, NHNN sẽ sử dụng CSTT với các quy đinh khác nhau nhằm đạt được mục tiêu trong giai đoạn đó. Thiết lập khung CSTT dựa theo thứ tự như sau: đầu tiên NHTW sẽ đặt ra những mục tiêu quan trọng - mục tiêu cuối cùng mà CSTT hướng tới. Theo sau đó, các nhà hoạch định chính sách lần lượt sẽ đặt ra các mục tiêu trung gian thống nhất và các mục tiêu hoạt động cần đạt được sao cho có thể tiến hành để đạt được mục tiêu cuối cùng. 15 Công việc cuối cùng là lựa chọn một hệ thống các công cụ chính sách mà NHTW có khả năng kiểm soát trực tiếp nhằm đạt được các giá trị mục tiêu như đã định.
Mục tiêu cuối cùng Mục tiêu cuối cùng là các biến số cuối cùng mà các nhà hoạch định chính sách muốn đạt được khi điều chỉnh các công cụ chính sách tiền tệ. Các nhà kinh tế học như Mishkin (2013), Cecchetti và cộng sự (2015) đều cho rằng các mục tiêu cuối cùng thường được các NHTW trên thế giới lựa chọn bao gồm: ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tổng số việc làm cao, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và các định chế tài chính, ổn định tỷ giá. Thứ nhất, mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Lạm phát là hiện tượng tăng liên tục mức giá chung của hàng hoá trong một thời gian dài. Tuỳ theo mức độ tăng giá mà người ta có thể phân thành: Lạm phát vừa phải, lạm phát không thể kiểm soát được và siêu lạm phát.
Theo quan điểm của trường phái Keynes và trường phái trọng tiền (Trường phái trọng tiền là một lý thuyết kinh tế, tập trung vào những tác động kinh tế vĩ mô của việc cung tiền và NHTW) thì lạm phát cao chỉ xảy ra với một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao. Nhà kinh tế học Milton Friedman lập luận rằng “Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ". Công thức của Milton Friedman cho rằng việc mở rộng quá mức cung tiền vốn đã lạm phát, và rằng cơ quan tiền tệ nên chỉ tập trung vào việc duy trì ổn định giá cả. Ổn định tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và ổn định giá cả (Cecchetti và cộng sự, 2015).
Giá trị đồng tiền phụ thuộc vào số lượng hàng hóa mà nó có thể trao đổi được (bao gồm cả hàng hóa là các tài sản thực, hàng hóa là các dịch vụ, hàng hóa là các ngoại tệ). Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: (1) Sức mua đối nội: Là số lượng hàng hóa mua được bằng một đơn vị nội tệ ở trong nước. Sức mua đối nội thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát của nội của quốc gia đó. (2) Sức mua đối ngoại: Là khối lượng hàng hóa mua được ở nước ngoài khi chuyển đổi một đơn vị nội tệ sang ngoại tệ.
Sức mua đối ngoại thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào sự biến động của tỷ giá và tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài. NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). 16 Trong nền kinh tế thị trường, NHTW không chỉ độc quyền về phát hành tiền mà còn điều tiết lượng tiền cung ứng, tức là Ngân hàng Trung ương phải thực hiện CSTT không gây ra lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Chính vì vậy sự ổn định tiền tệ là nhiệm vụ thường trực của NHTW, là định hướng chỉ đạo toàn bộ hoạt động của NHTW.
Có như vậy, Ngân hàng Trung ương mới thật sự là ngân hàng của nhà nước và ngân hàng của các ngân hàng (Trịnh Thị Mai Hoa, 2016). NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0. Theo Miller và VanHoose (2001), việc theo đuổi mục tiêu lạm phát ở mức quá thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của nền kinh tế, làm suy giảm tổng sản lượng và tốc độ tăng trưởng GDP.
Các quốc gia thường có xu hướng duy trì mức lạm phát ổn định và trong mục tiêu. Ví dụ, các chuyên gia về chính sách tiền tệ ở châu Âu cho rằng mức lạm phát từ 1,5% đến dưới 4% là phù hợp với các nền kinh tế phát triển (Cục dự trữ Liên bang). Việc lựa chọn lạm phát làm mục tiêu khiến NHTW tập trung vào tính ổn định của nền kinh tế và giúp giá cả được kiểm soát ngay khi có những cú sốc trong nền kinh tế. Thứ hai, mục tiêu tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là chỉ số phản ánh mức tăng lên của GDP năm nay so với GDP năm trước khi cả hai đều được tính trên cơ sở cùng mức giá của năm trước.
Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế. Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và tổng cầu, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, chính là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi vậy chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp. NHTW có thể duy trì mức lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư… khi nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái.
Từ đó hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Ngược lại, NHTW tác động làm gia tăng lãi suất từ đó giảm tiêu dùng, giảm đầu tư, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế phát triển quá nóng. Điều quan trọng là việc duy 17 trì một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao sẽ khó ổn định (Cecchetti và cộng sự, 2015).