CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ 1.1 Khái niệm Khái niệm CSTT được các học giả, các nhà nghiên cứu đưa ra tương đối đồng nhất trên cơ sở cơ chế tác động và mục tiêu CSTT của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Theo Frederic Mishkin (2004, trang 431) “CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái”. CSTT có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường. Theo nghĩa rộng thì CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa.
Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và mục tiêu kiểm soát lạm phát. Theo Luật NHNN Việt Nam (1997, điều 2) “CSTT quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân”. Theo Luật NHNN Việt Nam (2010, điều 3.1) “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết 4 định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Như vậy, CSTT là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối vơi nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu kinh tê-xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
CSTT tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định. Tổng hợp lại, theo tác giả CSTT được định nghĩa như sau: CSTT là tổng hòa các phương thức mà NHTW sử dụng để tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ nhất định. Trong từng thời kỳ nhất định, CSTT có thể được xác lập theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp. Chính sách tiền tệ mở rộng (hay còn gọi là chính sách tiền tệ nới lỏng): NHTW tăng cung tiền, giảm lãi suất để kích cầu nền kinh tế, kích thích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động nhằm thúc đẩy nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, trì trệ, giảm thất nghiệp.
Nhưng đồng thời, chính sách này cũng gây ra nguy cơ lạm phát. Chính sách tiền tệ thu hẹp (hay còn gọi là chính sách tiền tệ thắt chặt): NHTW giảm cung tiền, tăng lãi suất để giảm lượng tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tiêu dùng nhằm kiềm hãm sự phát triển thái quá của nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, chính sách này cũng dẫn đến hệ quả là nạn thất nghiệp gia tăng.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 5 Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. - Ổn định giá cả: Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán.
Chế độ tiền tệ này tất yếu phát sinh hiện tượng lạm phát. Lạm phát cao có thể lấy đi thành quả lao động của từng người dân và cả nền kinh tế, gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Ngược lại, giảm phát gây nên tình trạng trì trệ, suy thoái của nền kinh tế, thất nghiệp gia tăng. Vì vậy, trong quản lý đều hành kinh tế Chính phủ của các quốc gia đều hướng đến ổn định giá cả có tỷ lệ lạm phát thấp và đây cũng là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ.
Thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ, NHTW có thể điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông nhằm kiểm soát được tỷ lệ lạm phát theo mục tiêu đã đề ra. - Tăng trưởng kinh tế: Hệ thống Ngân hàng được ví như mạch máu của nền kinh tế, là kênh dẫn truyền vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi đến nơi cần vốn. Khai thác tối ưu nguồn vốn tiềm năng trong và ngoài nước để phục vụ cho việc tái mở rộng sản xuất, thúc đẩy quá trình tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Bằng chính sách tiền tệ của mình, NHTW có thể tác động đến các Ngân hàng Thương mại (NHTM) trong việc cung ứng vốn phục vụ phát triển kinh tế và điều tiết lượng tiền trong lưu thông nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
- Tạo công ăn việc làm: Tình trạng thất nghiệp tăng hay giảm tùy thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, quy mô sản xuất được mở rộng, tạo ra nhiều việc làm hơn, thất nghiệp giảm và ngược lại, khi kinh tế trì trệ, suy thoái, hoạt động sản xuất bị thu hẹp, công ăn việc làm bị giảm, thấp nghiệp tăng. Khi thực hiện mục tiêu này, NHTW phải vận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theo chu kỳ, tạo tăng trưởng kinh tế ổn định, vững chắc nhằm mục đích khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tạo ra một lượng công ăn việc làm cao. 6 Mục tiêu ổn định giá cả và mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp thường mâu thuẩn với nhau trong ngắn hạn do để kích thích tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất thất nghiệp NHTW áp dụng CSTT mở rộng làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên, giá cả hàng hóa tăng dẫn đến nguy cơ lạm phát.
Ngược lại, để kiểm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô NHTW áp dụng CSTT thắt chặt, lãi suất tăng làm giảm các nhân tố cấu thành nên tổng cầu của nền kinh tế, dòng tiền đi vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh giảm, cơ hội việc làm bị thu hẹp, nạn thất nghiệp gia tăng. Vì vậy, trong ngắn hạn NHTW không thể đạt được cùng lúc ba mục tiêu trên mà phần lớn các NHTW trên thế giới thường ưu tiên chọn mục tiêu ổn định giá cả. Tuy nhiên, trong ngắn hạn khi tình trạng thất nghiệp gia tăng đột ngột hoặc sản lượng nền kinh tế sụt giảm mạnh và dưới sức ép chính trị, NHTW tạm thời phải thay đổi mục tiêu ưu tiên từ ổn định giá cả sang kích cầu sản xuất, giảm tình trạng thất nghiệp. Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho CSTT cần phải có sự dung hòa, tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ tự ưu tiên và có giải pháp phù hợp.
NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế như giá cả, sản lượng và công ăn việc làm. Tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế sau một thời gian nhất định mới phát huy tác dụng. Nếu đợi đến khi các dấu hiệu kinh tế vĩ mô thể hiện rõ mới điều chỉnh công cụ chính sách tiền tệ thì đã quá muộn và không hiệu quả. Do vậy, NHTW thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng, gọi là mục tiêu trung gian.
Mục tiêu trung gian là những biến số tiền tệ mà NHTW có thể đo lường được chính xác, kiểm soát được và thông qua chúng có thể dự đoán được việc thực hiện các mục tiêu cuối cùng. Các mục tiêu trung gian của CSTT thường được các NHTW sử dụng là tổng khối lượng tiền cung ứng, mức lãi suất thị trường, tổng khối lượng tín dụng, tỷ giá. Các mục tiêu trung gian này lại được chi tiết hóa bằng những mục tiêu hoạt động. Mục tiêu hoạt động là những biến tiền tệ mà NHTW có thể dự báo được và có thể tác động hay kiểm soát một cách trực tiếp hơn so với mục tiêu 7 trung gian thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ nhằm thay đổi mục tiêu trung gian, qua đó tác động đến mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.
Tóm lại, chính sách tiền tệ chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi NHTW lựa chọn được một hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ phù hợp. Trong từng thời kỳ, các mục tiêu thường được lượng hóa cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và tiền tệ.3 Các công cụ chính sách tiền tệ: NHTW thực thi CSTT thông qua các công cụ chủ yếu sau: 1.1 Lãi suất: Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là một công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.2 Dự trữ bắt buộc: dự trữ bắt buộc (DTBB) là phần tiền gửi mà các NHTM đưa vào dự trữ theo luật định.
Mức DTBB cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ DTBB do NHTW quy định. Tỷ lệ DTBB là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà NHTM huy động được phải để dưới dạng dự trữ. NHTM chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần DTBB.