Chương 1 : Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 : Khung lý thuyết về nợ doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến mức nợ của doanh nghiệp và một số nghiên cứu thực nghiệm Chương 3 : Mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu Chương 4 : Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5 : Kết luận, một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng nợ cho các doanh nghiệp Việt Nam -8- CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NỢ DOANH NGHIỆP, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC NỢ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan về nợ và cơ cấu vốn của doanh nghiệp 2.1 Các lý thuyết tài chính về nợ và cơ cấu vốn doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về nợ doanh nghiệp Để tài trợ cho các dự án đầu tư được lựa chọn, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như tài trợ cho nhu cầu tài sản lưu động có thể sử dụng nợ vay ngắn hạn nợ dài hạn hoặc vốn chủ sở hữu. Mỗi loại nguồn vốn sẽ có đặc điểm riêng và sẽ tạo ra những ảnh hưởng khác nhau đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh. Thông tin về nguồn vốn của doanh nghiệp được trình bày trên bảng cân đối kế toán và được giải thích chi tiết trên thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm hai nhóm chính là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. • Nợ phải trả: Là các nguồn vốn được hình thành do vay mượn, mua chịu hàng hóa , dịch vụ của các nhà cung cấp, các khoản nợ tích lũy (thuế chưa nộp cho ngân sách nhà nước, lương, bảo hiểm xã hội chưa thanh toán cho người lao động).
Nợ phải trả được phân loại như sau: - Nợ ngắn hạn: Là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường. - Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm. • Vốn chủ sở hữu : Khác với nợ, vốn chủ sở hữu được hình thành từ sự đóng góp của các chủ sở hữu hoặc được tích lũy từ quá trình hoạt động kinh doanh. Phần lớn các khoản mục trong vốn chủ sở hữu có đặc điểm là không phải hoàn trả và có tính ổn định cao.
-9- Quan hệ tỷ lệ giữa Nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được gọi là cấu trúc tài chính. Sự khác biệt giữa nợ và vốn chủ sở hữu được thể hiện ở nhiều tiêu chí .1: So sánh giữa nợ và vốn chủ sở hữu theo các tiêu chí Tiêu chí Nợ Vốn chủ sở hữu Có thời hạn thanh toán Không có thời hạn hoàn Thời hạn thanh toán cụ thể. • Doanh nghiệp phải • Không phải trả lãi mà trả lãi và gốc cho khoản chia lời tùy theo kết quả tiền đã vay ngoại trừ các hoạt động kinh doanh và khoản nợ chiếm dụng. chính sách phân phối lợi Trách nhiệm thanh toán nhuận.
• Nếu không thanh toán được nợ và lãi, • Doanh nghiệp không doanh nghiệp sẽ bị phá bị phá sản nếu không sản. chia lãi cho chủ sở hữu. Lãi vay được tính vào Lợi nhuận chia cho chủ chi phí khi xác định lợi sở hữu không làm giảm Ảnh hưởng đến thuế thu nhuận chịu thuế thu nhập thuế thu nhập doanh nhập doanh nghiệp vì vậy lãi vay có tác nghiệp. động làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chi phí thấp hơn so với Chi phí sử dụng vốn chủ chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí Chi phí sử dụng vốn sở hữu vì: sử dụng nợ vì: • Rủi ro đối với chủ nợ • Chủ sở hữu chỉ được - 10 - thấp hơn. chia lợi nhuận sau khi thanh toán các khoản • Nợ vay tạo ra lá chắn thuế và lãi vay. thuế nên gánh nặng lãi vay thực tế mà doanh • Trong trường hợp nghiệp phải chịu thấp giải thể, phá sản thì chủ hơn. sở hữu là người được ưu tiên sau cùng khi phân chia tài sản thanh lý.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ lý thuyết 2.2 Một số lý thuyết tài chính về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Theo quan điểm truyền thống Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp, kết hợp với thuận lợi về hưởng tấm chắn thuế sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia quyền giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ ở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ. Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn).
Do đó, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, chi phí vốn bình quân gia quyền sẽ tăng. Quan điểm truyền thống này đã không đưa ra một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu (do tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu) hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu (do nguy cơ vỡ nợ). Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (mô hình MM) Ngược lại với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. - 11 - Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏ qua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền.
Khi thị trường vốn là hoàn hảo, MM cho rằng các doanh nghiệp có nguy cơ kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn (bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn). Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau thì dù tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu có như thế nào thì cũng phải có chi phí bình quân gia quyền giống nhau Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả. Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và một trong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm được thuế cho thanh toán tiền lãi. Lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn dựa trên tính biến đổi của các luồng tiền.
Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Nếu nợ cao thì lý thuyết này sẽ không còn đúng. Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùng với nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn). Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chính xác.
Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Với các giả thuyết trên, dẫn đến tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ. - 12 - Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư dẫn đến giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ. Lý thuyết cân bằng Tại thị trường hoàn hảo và hiệu quả, Modilligani và Miler (1958) chứng minh rằng cấu trúc vốn là không thích hợp.
Nhưng theo mô hình MM (1963), việc đánh thuế cao hơn vào lợi tức cho thấy nợ nhiều hơn. Còn DeAngelo và Masulis (1980) thì cho rằng bảo trợ thuế cao hơn cho thấy nợ ít hơn. Mô hình MM giả định tiền lãi mong đợi hàng năm không đổi nên giá trị doanh nghiệp là như nhau bất chấp cấu trúc vốn. Nếu thực tế tiền lãi mong đợi đang ở chiều hướng đi xuống thì việc sử dụng nợ sẽ có tác động ngược lại và có thể dẫn doanh nghiệp đến chỗ phá sản.
Thuyết cân bằng xác định kết cấu vốn tối ưu bằng cách cộng thêm vào mô hình Modilligani và Miler (1958) các yếu tố phi hoàn hảo khác nhau, bao gồm thuế, chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian, song vẫn không mất đi các giả định tính hiệu quả của thị trường và thông tin cân bằng. Như vậy, tác động tổng hợp 3 yếu tố: thuế, chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian khi sử dụng nợ với những tác động ngược chiều nhau hình thành lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu. - 13 - Trong đó: Vg : Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ Vu : Tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D : Tổng nợ doanh nghiệp sử dụng Việc đưa chi phí khánh tận tài chính và chi phí trung gian vào mô hình MM và mô hình Modilligani và Miler (1958) dẫn đến lý thuyết cân bằng về cấu trúc vốn. Những mô hình này đều thừa nhận một cấu trúc vốn tối ưu.