Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nội dung của luận văn và các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động giữa những biến kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán: Mối quan hệ giữa những biến kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán các nước được khá nhiều tác giả trên thế giới tiến hành nghiên cứu và đã tìm thấy nhiều kết quả đáng tin cậy. Adam và George Tweneboah (2008) kiểm tra tác động của những biến kinh tế vĩ mô lên biến động chỉ số giá chứng khoán ở Ghana. Phân tích trong dài hạn và ngắn hạn mối quan hệ giữa chỉ số giá chứng khoán và 4 biến kinh tế vĩ mô từ quý 1/1991 đến quý 4/2006 là đầu tư trực tiếp nước ngoài, lạm phát, lãi suất tín phiếu kho bạc và tỷ giá hối đoái với việc sử dụng phương pháp đồng kết hợp Johansen và mô hình hiệu chỉnh sai số vector VECM, đồng thời phân tích hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai. Nghiên cứu đã tìm ra được mối quan hệ cân bằng dài hạn như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và lạm phát là hai biến tỷ lệ thuận với thị trường chứng khoán trong khi các biến còn lại là lãi suất tín phiếu kho bạc, tỷ giá hối đoái lại có mối quan hệ nghịch chiều với thị trường chứng khoán.
Song song đó, phân tích hàm phản ứng đẩy cho thấy giá chứng khoán phản ánh tức thời sự biến động của lạm phát. Phản ứng của giá chứng khoán đối với tỷ giá và lãi suất khớp với những kết quả nghiên cứu trước đây cho cả thị trường chứng khoán phát triển và mới nổi. Phân tích phân rã phương sai cho thấy sự biến động của biến chỉ số chứng khoán chủ yếu do biến động của chính nó ở cuối quý 1. Sau 4 quý thì tỷ giá và lạm phát trở thành nhân tố nổi cộm.
Sau 12 quý thì biến động của thị trường chứng khoán được giải thích chủ yếu bởi lãi suất tín phiếu kho bạc. Cuối 24 quý cho thấy lạm phát và lãi suất tín phiếu là nhân tố quan trọng nhất giải thích biến động của thị trường chứng khoán. Cũng sử dụng mô hình VECM và kiểm định đồng kết hợp Johansen, Ramin Cooper Maysami và cộng sự (2004) nghiên cứu cho thị trường chứng khoán 123doc 7 Singapore tìm thấy rằng tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa chỉ số chứng khoán Singapore với các biến độc lập nghiên cứu thông qua tương quan thuận với các biến chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số sản xuất công nghiệp IP, lãi suất ngắn hạn STB, cung tiền M2 và tương quan nghịch với các biến còn lại là lãi suất dài hạn LTB, tỷ giá hối đoái SDR. Gagan Deep Sharma và Mandeep Mahendru (2010) nghiên cứu tác động của những biến kinh tế vĩ mô lên thị trường chứng khoán Ấn Độ với mục tiêu nghiên cứu là nhằm khám phá ra những biến kinh tế vĩ mô chủ yếu, xem xét tác động của những biến vĩ mô này lên giá chứng khoán.
Bài nghiên cứu tập trung vào 4 biến kinh tế vĩ mô chính đó là: Giá vàng, dự trữ ngoại hối, tỉ giá hối đoái và lạm phát lấy theo tuần cho thời kỳ từ tháng 1/2008 đến tháng 1/2009. Dựa vào ma trận tương quan để xem xét tác động của các biến số lên giá chứng khoán, tác giả nhận thấy tỷ giá hối đoái và giá vàng có tương quan cao với giá chứng khoán. Tác giả chạy hồi quy 2 kịch bản: (1) giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái và (2) giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái và giá vàng. Kết quả cho thấy: tỷ giá hối đoái và giá vàng có tác động mạnh lên giá chứng khoán.
Dự trữ ngoại hối và lạm phát tác động lên giá chứng khoán có một mức hạn chế. Với mục tiêu nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa chỉ số chứng khoán New Zealand NZSE40 và 7 biến kinh tế vĩ mô từ tháng 1/1990 đến tháng 1/2003 và sừ dụng kinh tế lượng với các mô hình nghiên cứu, kiểm định của eview như: Johansen Maximum Likelihood, kiểm định nhân quả Granger để xác định liệu chỉ số chứng khoán có là một chỉ báo cho những biến vĩ mô khác và tác giả Christopher Gan và cộng sự (2006) lấy 7 biến kinh tế vĩ mô đó là: Tỷ lệ lạm phát (CPI), Tỷ giá hối đoái (EX), GDP, Cung tiền, lãi suất dài hạn (LR), lãi suất ngắn hạn (SR), giá dầu nội địa (ROIL) đã cho ra kết quả như sau: 4 biến vĩ mô là EX, SR, ROIL và GDP là những biến quan trọng nhất trong việc quyết định chỉ số chứng khoán. Kết quả cũng cho thấy NZSE không phải là chỉ báo bất cứ biến vĩ mô nào trong thời kỳ nghiên cứu. Phân tích phản ứng đẩy cho 123doc 8 kết quả như sau: Tác động của cú sốc lên giá chứng khoán có tác động dương, sau đó yếu dần kể từ 6 tháng.
Cú sốc đến GDP thực, giá dầu, SR lên NZSE40 là dương. Cú sốc của CPI, M1 và LR luôn luôn có tác động âm lên chỉ số chứng khoán. Cú sốc đến EX có tác động âm, sau tháng thứ 4 thì trở nên dương. Phân tích phân rã phương sai có kết quả là về dài hạn, NZSE40 có thể được giải thích từ các biến LR, SR, cung tiền và GDP.
Nhìn chung, chỉ số NZSE40 được quyết định bởi lãi suất, cung tiền và GDP thực trong giai đoạn 1990-2003. Kết quả này khuyến cáo các nhà đầu tư quan tâm đến đầu tư vào New Zealand nên chú trọng nhiều hơn vào những biến này thay vì chú trọng vào tỷ giá và tỷ lệ lạm phát. Tác giả Al-Sharkas và Adel (2004) sử dụng phương pháp đồng kết hợp của Johansen 1991 để phân tích cân bằng dài hạn giữa thị trường chứng khoán và những biến kinh tế vĩ mô áp dụng lần đầu tiên cho thị trường chứng khoán Jordan. Các biến sử dụng là chỉ số thị trường chứng khoán Amman, CPI, cung tiền M2, chỉ số sản xuất công nghiệp và lãi suất tín phiếu kho bạc.
Tác giả tìm thấy rằng tồn tại mối quan hệ đồng kết hợp giữa các biến. Việc phân tích kết quả cho thấy nó khớp với những tìm thấy trước đây. Cung tiền, lãi suất tín phiếu và chỉ số sản xuất công nghiệp có mối quan hệ đồng biến với thị trường chứng khoán trong khi CPI tác động ngược chiều. Sử dụng những biến kinh tế vĩ mô quen thuộc, Pramod Kumar Naik và Puja padhi (2012) cứu khảo sát mối quan hệ giữa chỉ số chứng khoán Ấn Độ (BSE Sensex) và 5 biến kinh tế vĩ mô đó là: chỉ sổ sản xuất công nghiệp, lạm phát, cung tiền, lãi suất tín phiếu kho bạc và tỷ giá hối đoái từ năm 1994 đến 2011.
Kết quả sau khi sử dụng phương pháp Johansen và VECM cho thấy thị trường chứng khoán tương quan dương với cung tiền và chỉ số sản xuất công nghiệp, tương quan âm với lạm phát. Tỷ giá và lãi suất tín phiếu không đáng kể trong việc quyết định chỉ số giá chứng khoán. Trong khuôn khổ mô hình chiết khấu giá trị, tác giả Andreas humpe và Peter Macmillan (2007) kiểm định liệu những biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lên giá chứng khoán ở Mỹ và Nhật Bản hay không. Phân tích đồng kết hợp được sử dụng để xem mối 123doc 9 quan hệ cân bằng dài hạn giữa sản xuất công nghiệp, CPI, cung tiền, lãi suất dài hạn và giá chứng khoán ở Mỹ và Nhật Bản.
Ở Mỹ, giá chứng khoán thuận chiều với sản xuất công nghiệp và nghịch chiều với CPI, lãi suất. Cũng quan hệ thuật chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê giữa giá chứng khoán Mỹ và cung tiền. Với dữ liệu của Nhật Bản, tác giả tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa giá chứng khoán với sản xuất công nghiệp và nghịch chiều với cung tiền. CPI và lãi suất không có ý nghĩa lên giá chứng khoán.
Asmy và cộng sự nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa chỉ số chứng khoán kết hợp Kuala Lumpur (Malaysia) và những biến kinh tế vĩ mô như: lạm phát, cung tiền và tỷ giá hối đoái trong 2 thời kỳ trước và sau khủng hoảng từ 1987- 1995 và 1999-2007. Kết quả cho thấy có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa giá chứng khoán và những biến kinh tế vĩ mô. Lạm phát, cung tiền và tỷ giá có ảnh hưởng có ý nghĩa đến chỉ số giá chứng khoán. Những biến này được cho là công cụ chính sách nhấn mạnh của chính phủ nhằm bình ổn giá chứng khoán.
Gautam Goswami và Sung-chang Jung (1997) kiểm tra tác động của những nhân tố kinh tế lên thị trường chứng khoán Hàn Quốc. Sử dụng mô hình VECM, bài nghiên cứu xem xét những tác động ngắn hạn cũng như dài hạn giữa giá chứng khoán và 8 biến kinh tế vĩ mô từ nền kinh tế Hàn Quốc. Kết quả cho thấy thị trường chứng khoán nước này tương quan dương với sản xuất công nghiệp, lạm phát, lãi suất ngắn hạn, giá dầu, cán cân thương mại và tương quan âm với lãi suất dài hạn, cung tiền M2 và tỷ giá. Seyed Mehdi Hosseini và cộng sự (2011) xem xét vai trò của những biến kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá chứng khoán ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Bài nghiên cứu này kiểm tra mối quan hệ giữa chỉ số chứng khoán và 4 biến kinh tế vĩ mô là giá dầu thô, cung tiền M2, sản xuất công nghiệp và tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc và Ấn Độ với thời gian từ 1999 đến 2009. Sử dụng phương pháp Johansen 1990 và VECM, tác giả chỉ ra rằng có cả mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa những biến kinh tế vĩ mô và chỉ số thị trường chứng khoán ở mỗi nước. 123doc 10 Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích tác động của những biến kinh tế vĩ mô lên thị trường chứng khoán Thổ Nhỹ Kỳ trong khuôn khổ lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá với 7 biến vĩ mô được lựa chọn đó là: CPI, lãi suất, giá vàng, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá dầu, tỷ giá hối đoái và cung tiền. Dữ liệu lấy theo dữ liệu tháng từ tháng 1/2003 đến tháng 3/2010 sử dụng mô hình hồi quy đa biến, tác giả Ahmet Buyiiksalvaci (2010) có kết quả như sau: Lãi suất, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá dầu, tỷ giá hối đoái có tác động âm lên chỉ số chứng khoán trong khi cung tiền có tác động dương.
Tỷ lệ lạm phát và giá vàng không có tác động có ý nghĩa lên chỉ số chứng khoán.