MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trải qua 13 năm hình thành và phát triển, thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc thì thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức do sự biến động bất thƣờng của thị trƣờng trong thời gian gần đây. Ngoài một số nguyên nhân nhƣ khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, tâm lý bầy đàn của nhà đầu tƣ, giao dịch với thông tin nội gián, … thì những bất ổn trong kinh tế vĩ mô Việt Nam đã có tác động và gây ra sự biến động thăng trầm của thị trƣờng chứng khoán non trẻ nƣớc ta.
Vì vậy, việc phân tích và đánh giá thực trạng để tìm ra giải pháp phát triển ổn định thị trƣờng chứng khoán để tăng hiệu quả thu hút nguồn vốn đầu tƣ cho nền kinh tế là rất cần thiết. Trên cơ sở đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Phân tích thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu và đề ra các giải pháp giải quyết các nhân tố ảnh hƣởng đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam cũng nhƣ các vấn đề còn tồn tại để phát triển ổn định thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu: thị trƣờng chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu sự biến động chỉ số giá chứng khoán VNIndex trên Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM và bốn nhân tố kinh tế vĩ mô: chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất, tỷ giá, cung tiền từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2012. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp phƣơng pháp định tính và định lƣợng. 123doc Nghiên cứu định tính đƣợc thực hiện bằng các phƣơng pháp thống kê mô tả, phân tích thông qua các biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số phân tích … của chỉ số giá chứng khoán VNIndex và các nhân tố kinh tế vĩ mô Việt Nam đƣợc thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2007 – 2012.
Đồng thời thực hiện nghiên cứu định lƣợng bằng mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số VECM dựa trên những nghiên cứu trƣớc đây về phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán để tìm ra mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa chỉ số giá chứng khoán VNIndex và các nhân tố kinh tế vĩ mô. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Đề tại đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc đây về các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hƣởng đến thị trƣờng chứng khoán. Thông qua phân tích thực trạng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đề tài chỉ ra mức độ và chiều hƣớng ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2007-2012 cũng nhƣ chỉ ra các vấn đề còn tồn tại của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và nguyên nhân của nó. Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề ra các giải pháp để phát triển ổn định thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài đƣợc chia làm bốn phần chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về chỉ số giá chứng khoán và các nhân tố ảnh hƣởng đến thị trƣờng chứng khoán Chƣơng 2: Phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 3: Mô hình nghiên cứu ảnh hƣởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam 123doc 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 1.1 Thị trƣờng chứng khoán 1.1 Khái niệm Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán đƣợc thể hiện dƣới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tƣơng lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trƣờng vốn, là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này đƣợc tiến hành ở thị trƣờng sơ cấp khi ngƣời mua mua đƣợc chứng khoán lần đầu từ những ngƣời phát hành, và ở những thị trƣờng thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đƣợc phát hành ở thị trƣờng sơ cấp.
Nhƣ vậy, xét về mặt hình thức, thị trƣờng chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhƣợng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.2 hân loại thị trường chứng kho n Phân loại theo sự luân chuyển các nguồn vốn Thị trƣờng sơ cấp: là thị trƣờng mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trƣờng này, vốn từ nhà đầu tƣ sẽ đƣợc chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tƣ mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trƣờng thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. 123doc 2 Phân loại theo phƣơng thức hoạt động của thị trƣờng Thị trƣờng tập trung: là thị trƣờng chính thức mà ở đó việc giao dịch các loại chứng khoán đã niêm yết đƣợc tập trung tại một điểm gọi là sàn giao dịch.
Thị trƣờng phi tập trung (Thị trƣờng OTC - Over The Counter): là thị trƣờng không có địa điểm giao dịch cụ thể, các giao dịch (cả sơ cấp lẫn thứ cấp) đƣợc tiến hành qua mạng lƣới các công ty môi giới chứng khoán trên khắp cả nƣớc bằng hệ thống điện thoại và máy tính nối mạng. Phân loại theo hàng hóa trên thị trƣờng Thị trƣờng cổ phiếu: là thị trƣờng giao dịch, mua bán các loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thƣờng và cổ phiếu ƣu đãi. Thị trƣờng trái phiếu: là thị trƣờng giao dịch, mua bán các loại trái phiếu đã đƣợc phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ. Thị trƣờng các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trƣờng phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác nhƣ: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn… 1.3 Chức năng của thị trường chứng kho n Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế Sự hoạt động của thị trƣờng chứng khoán tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Thị trƣờng chứng khoán cung cấp phƣơng tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân cƣ cho các công ty sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nhƣ đầu tƣ phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới. Chức năng này đƣợc thực hiện khi công ty phát hành chứng khoán và công chúng mua chứng khoán. Nhờ vào sự hoạt động của thị trƣờng chứng khoán mà các công ty có thể huy động một lƣợng vốn lớn đầu tƣ dài hạn. Khi các nhà đầu tƣ mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ đƣợc đƣa vào hoạt động sản xuất kinh 123doc 3 doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Trong quá trình này thị trƣờng đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tƣ của các công ty. Thông qua thị trƣờng chứng khoán, Chính phủ và chính quyền địa phƣơng huy động đƣợc các nguồn vốn cho đầu tƣ phát triển hạ tầng kinh tế phục vụ nhu cầu chung của xã hội. Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán TTCK cung cấp cho công chúng một môi trƣờng đầu tƣ lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trƣờng rất khác nhau về tính chất, thời hạn, khả năng đƣa lại lợi tức, mức độ rủi ro, cho phép nhà đầu tƣ có thể lựa chọn đƣợc loại chứng khoán phù hợp với khả năng, sở thích và mục đích của mình.
Chính vì vậy, TTCK có tác dụng quan trọng trong việc khuyến khích tiết kiệm để đầu tƣ. Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế TTCK là nơi đánh giá giá trị doanh nghiệp và nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trƣờng. Từ đó tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. Tạo môi trƣờng giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác.
Giá cả của chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tƣ đang mở rộng, nền kinh tế tăng trƣởng, và ngƣợc lại khi giá chứng khoán giảm cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế TTCK đƣợc coi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra Chính phủ còn có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hƣớng đầu tƣ đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.4 Chủ thể tham gia trên thị trường chứng kho n TTCK là một thực thể phức tạp mà hoạt động của thị trƣờng có nhiều loại chủ thể tham gia, bao gồm: cơ quan quản lý, giám sát; chủ thể phát hành chứng khoán; nhà đầu tƣ chứng khoán; chủ thể trung gian tài chính; và các chủ thể khác.
Cơ quan quản lý, giám sát Chủ thể quản lý có nghĩa vụ bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm cho việc mua bán chứng khoán trên thị trƣờng diễn ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo vệ lợi ích của nhà đầu tƣ.