CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU 1.1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN Những giao dịch đầu tiên của quyền chọn mua và quyền chọn bán trên thế giới được cho là đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu. Vào đầu những năm 1900, một nhóm Công ty gọi là “Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn bán” đã thành lập thị trường các quyền chọn. Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn, một thành viên của hiệp hội sẽ này sẽ tìm một người bán sẵn sàng muốn ký hợp đồng bán quyền chọn. Nếu công ty thành viên không thể tìm ra được người bán, tự công ty sẽ bán quyền chọn với giá cả thích hợp.
Vì vậy, một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới vừa là nhà kinh doanh. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập trung OTC (over-the-counter). Tháng 4 năm 1973, Uỷ ban thương mại Chicago (Chicago Board of Trade- CBO) thành lập sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (Chicago Board Options Exchange – CBOE), đặc biệt dành cho trao đổi quyền chọn về cổ phiếu. TTCK Philadelphia (Philadelphia Exchange – PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975, TTCK Pacific (Pacific Stock Exchange – PSE) thực hiện vào năm 1976 và TTCK New York ( New York Stock Exchage – NYSE) thực hiện vào năm 1985.
Việc mua bán quyền chọn trở nên phổ biến đầu tiên ở Chicago Board of Options Exchange. Vào thời kỳ đó chủ yếu trao đổi các cổ phiếu thương mại đơn lẻ. Năm 1992, quyền chọn bắt đầu giao dịch trên các hợp đồng tương lai với trái phiếu chính phủ, và loại giao dịch này phát triển rất nhanh. Giao dịch trên thị trường đấu giá mở, việc mua bán quyền chọn cung cấp rất nhiều công cụ để đầu cơ và phòng hộ giá cho cộng đồng thương mại.
Khi xã hội ngày càng phát triển, giao dịch quyền chọn ngày càng trở nên phổ biến hơn, lan rộng sang Anh, Brazil, Đức, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông và HDKH: TS. Nguyễn Thị Xuân Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Duyên 7 Australia. Việc toàn cầu hoá thị trường thế giới đã tạo ra nhu cầu liên kết điện tử và thương mại 24/24 trong ngày. Thị trường Mỹ đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ra những sản phẩm giao dịch quốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một sàn giao dịch điện tử.
Những hệ thống đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển) và Project A (được CBOT phát triển). Ở Đức, Deustche Terminborse Exchange đã bỏ kiểu giao dịch đấu giá mở, thay vào đó vận hành sàn giao dịch điện tử. Trên hệ thống GLOBEX, các nhà đầu tư cá thể có thể giao dịch dựa trên chỉ số S&P 500, S&P 500 mini và NASDAQ 100 và các hợp đồng con. Các nhà đầu tư còn có thể mua bán ngoại hối trên GLOBEX.
Trên hệ thống Project A ( hiện tại là hệ thống Eurex- tháng 8/2000 CBOT xây dựng Eurex, tất cả giao dịch trên Project A đều được thực hiện tại Eurex). Các nhà đầu tư cá thể có thể mua bán trái phếu T-bonds và tín phiếu, quyền chọn và tất cả các sản phẩm ngũ cốc trên CBOT.2 QUYỀN CHỌN VÀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU: 1.1 Định nghĩa Quyền chọn là một hợp đồng ký kết giữa một bên là “người ký phát” (Writer/Seller) và một bên là người mua hợp đồng (Buyer) trong đó, cho phép người mua hợp đồng được quyền mua hoặc bán cho người ký phát hợp đồng một số lượng tài sản với một giá cả nhất định và trong một thời hạn quy định của tương lai. Hợp đồng quyền chọn cung cấp quyền cho người sở hữu nó chứ không phải là nghĩa vụ mua hoặc bán. Vì vậy người chủ quyền chọn có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền trong thời gian hiệu lực của hợp đồng quyền chọn.
Các hàng hoá trong giao dịch quyền chọn có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, tiền tệ hay hợp đồng tương lai… Một quyền chọn phổ biến nhất trên thế giới hiện nay trong lĩnh vực tài chính và có nhiều điểm tương đồng với giao dịch cổ phiếu là quyền chọn cổ phiếu. Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam 8 Quyền chọn cổ phiếu là một công cụ giao dịch linh hoạt nhất đã được tìm ra trong lĩnh vực kinh doanh – tài chính. Do chi phí cho quyền chọn thấp hơn giao dịch cổ phiếu, quyền chọn cung cấp một đòn bẩy tài chính cao với một mức thiệt hại giới hạn cụ thể trong việc giao dịch và đồng thời làm tăng thêm thu nhập cho nhà đầu tư. Người mua quyền chọn có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mua hoặc bán các chứng khoán cơ sở (underlying stock) tại mức giá thực hiện đã thoả thuận trước (strike price/ exercise price) vào trước hoặc tại ngày đã định trước(expiry date).
Các quyền chọn này tồn tại đối với hàng ngàn cổ phiếu riêng lẻ, mặc dù khối lượng giao dịch có thể thấp đối với quyền chọn của một số loại cổ phiếu nhất định. Tất cả các quyền chọn niêm yết có quyền thực hiện cho tháng hiện tại hoặc các tháng quy định trong tương lai (ở Mỹ thường là vào ngày thứ sáu của tuần thứ ba trong tháng đáo hạn). Mỗi cổ phiếu sẽ có một chu kỳ thích hợp đối vói quyền chọn. Tại Sàn giao dịch Chứng khoán Chicago của Mỹ, có ba chu kỳ đáo hạn cố định được quy định cho quyền chọn, mỗi chu kỳ thường cách nhau đều đặn là bốn tháng: Chu kỳ thứ nhất bắt đầu từ tháng Giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng mười; Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ tháng hai, tháng năm, tháng tám và tháng mười một; Chu kỳ thứ ba bắt đầu từ tháng ba, tháng sáu, tháng chín và tháng mười hai.
Mỗi quyền chọn luôn có vài mức giá thực hiện (strike price) cao hơn hoặc thấp hơn giá giao dịch hiện hành của chứng khoán cơ sở trên thị trường và tăng giảm theo một biên độ nhất định, giá thực hiện được niêm yết giá với biên độ là 21/2, 5 và 10 điểm tuỳ thuộc vào giá thị trường của chứng khoán cơ sở và chỉ có vài giá thực hiện ở trên hoặc dưới giá hiện hành mới được giao dịch. Giá quyền chọn được xác định do cung cầu trên cơ sở đấu giá công bằng, công khai và cạnh tranh của sàn giao dịch. Ngoài ra, giá đóng cửa của quyền chọn luôn được đăng báo phổ biến hàng ngày. Người nắm giữ quyền chọn có ba phương pháp để hiện thực hoá lợi nhuận hoặc giảm thiếu phần thua lỗ bằng cách: hoặc bán lại quyền chọn; hoặc thoát khỏi giao dịch bằng cách giao dịch ngược lại với quyền chọn đang nắm giữ (offseting); hoặc để quyền chọn tự động đáo hạn không giá trị.
Nguyễn Thị Xuân Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Duyên 9 Với đặc tính của Quyền chọn cổ phiếu đã nêu trên có nhiều điểm tương đồng với việc giao dịch cổ phiếu như: thứ nhất, việc giá giao dịch mua bán hình thành và thực hiện theo phương thức đấu giá mở; thứ hai, giao dịch quyền chọn cổ phiếu được thực hiện theo qui mô hợp đồng - tuỳ theo quy định cụ thể của từng sàn giao dịch, nhưng thông thường là 100 cổ phần/hợp đồng quyền chọn- tương tự hình thức giao dịch theo lô đối với cổ phiếu tại TTCK Việt Nam; thứ ba, nhà đầu tư quyền chọn còn có thể theo dõi xu hướng giá, khối lượng giao dịch và thông tin liên quan mỗi ngày, thậm chí mỗi phút của chứng khoán cơ sở giống như các nhà đầu tư cổ phiếu và nhanh chóng biết được mức giá nào nên thực hiện hợp đồng Quyền chọn của mình. Vì vậy, trong đề tài này tôi chỉ tập trung đề cập đến việc áp dụng Quyền chọn cổ phiếu vào TTCKVN và những khái niệm về Quyền chọn chứng khoán xuất hiện trong đề tài này cũng chỉ hàm ý đến Quyền chọn cổ phiếu 1.2 Các loại quyền Chọn 1.1 Quyền chọn Mua ( Call Options ) Quyền chọn mua cho người mua có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, mua chứng khoán cơ sở tại một mức giá thực hiện đến khi đáo hạn. Có rất nhiều giá thực hiện có sẵn tuỳ thuộc vào giá giao dịch hiện thời của chứng khoán cơ sở. Thời gian đáo hạn có thể từ một tháng đến hơn một năm (Quyền chọn dài hạn LEAPS – Longterm Equity Anticipation Securities).
Tuỳ thuộc vào trạng thái thị trường mà người mua quyền chọn có thể mua (go long a Call option) hoặc bán ( go short a Call option) một quyền chọn mua. Người mua quyền chọn mua có kỳ vọng về xu hướng tăng giá của cổ phiếu. Một quyền chọn mua mà giá chứng khoán cao hơn giá thực hiện được gọi là cao giá ITM (quyền chọn mua có lãi); Nếu giá chứng khoán thấp hơn giá thực hiện, quyền chọn mua được gọi là kiệt giá OTM (quyền chọn mua bị lỗ); Nếu giá chứng khoán bằng với giá thực hiện, quyền chọn là ngang giá ATM ( quyền chọn mua hoà vốn).1(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn khi giá của chứng khoán cơ sở tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu giá Áp dụng Quyền chọn Cổ phiếu vào TTCK Việt Nam 10 chứng khoán giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối đa bằng với phí mua quyền chọn Hình 1.1: Vị thế của Quyền chọn Mua Lãi Điểm hoà vốn Vùng Lãi 0 Phí Giá tài sản tăng Lỗ Giá thực hiện (a)- Thành quả của người mua quyền chọn mua Hình 1.1(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn mua, người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn và sẽ bị thua lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện.
Giá thực hiện Lãi Phí Giá tài sản tăng 0 Vùng Lỗ Lỗ Điểm hoà vốn (b)- Thành quả của người bán quyền chọn mua 1.2 Quyền chọn Bán (Put Options) Quyền chọn bán cho người mua có quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, bán chứng khoán cơ sở tại một mức giá thực hiện đến khi đáo hạn. Có rất nhiều giá thực hiện có sẵn tuỳ thuộc vào giá giao dịch hiện thời của chứng khoán cơ sở. Thời gian đáo hạn có thể từ một tháng đến hơn một năm (Quyền chọn dài hạn LEAPS). Tuỳ thuộc vào trạng thái thị trường mà người mua quyền chọn có thể mua (go long a Put option) HDKH: TS.
Nguyễn Thị Xuân Liễu Thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Duyên 11 hoặc bán ( go short a Put option) một quyền chọn bán. Người mua quyền chọn bán kỳ vọng cổ phiếu có xu hướng giảm giá.