Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN TÍNH THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2. Tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Đã có không ít bài nghiên cứu về tính thanh khoản của thị trường chứng khoán. Trong đó phải kể đến bài nghiên cứu của hai tác giả Amihud và Mendelson (1986). Bài nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của của chênh lệch giá mua/bán của cổ phiếu lên TSSL.
Hai ông phát triển một mô hình mà tại đó nhà đầu tư có thời gian nắm giữ tài sản khác nhau với những khoảng chênh lệch giá mua/ bán khác nhau. Kết quả của bài nghiên cứu cho rằng TSSL của chứng khoán là một hàm tăng theo tính kém thanh khoản, sau đó cũng đã nhiều bài nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa tính thanh khoản và TSSL của tài sản và các bằng chứng thực nghiệm đã xác nhận điều này. Mối quan hệ này có thể được giải thích do những nhà đầu tư yêu cầu TSSL cao hơn để bù đắp cho việc nắm giữ tài sản kém thanh khoản hơn. Thêm vào đó hai ông còn xây dựng một mô hình kiểm định chi tiết nhằm theo dõi sự biến động của TSSL chứng khoán trên thị trường, kết quả thu được cũng đã xác nhận những cơ sở lý thuyết mà tác giả đã đưa ra trước đó với một mức ý nghĩa thống kê đáng tin cậy.
Bên cạnh đó, tác giả Amihud (2002) với bài nghiên cứu “Tính kém thanh khoản và TSSL chứng khoán” chỉ ra rằng TSSL vượt trội của chứng khoán không chỉ đại diện cho phần bù rủi ro của chứng khoán mà phần nào còn đại diện cho tính kém thanh khoản của chứng khoán đó. Kết luận này hàm ý rằng TSSL vượt trội của chứng khoán không chỉ phản ánh rủi ro cao hơn mà còn thể hiện một mức thanh khoản thấp hơn so với các trái phiếu kho bạc. Bài nghiên cứu “Tỷ lệ sở hữu nước ngoài và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán: bằng chứng ở Indonesia” của 2 tác giả S.Ghon Rhee và Jiaxin Wang (2009) cung cấp những chứng cứ trực tiếp về tác động của đầu tư nước TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 6 ngoài đến tính thanh khoản ở các thị trường chứng khoán mới nổi. Trong bài, tác giả giới thiệu một tập hợp các thước đo tính thanh khoản tốt hơn như: chênh lệch giữa giá mua và giá bán, độ sâu thị trường (market depth) và tác động của mỗi đơn vị giao dịch đến giá.
Như đã được chỉ ra bởi Lesmond (2005), các thước đo dựa trên giá trị giao dịch không thể hiện được khác biệt chéo (khác biệt giữa các quan sát thu thập tại 1 thời điểm) trong chi phí mỗi giao dịch, giữa các cổ phiếu. Chi phí này có xu hướng tăng lên trong suốt giai đoạn bất ổn khi tính thanh khoản thực sự giảm xuống. Tác động của chính sách tiền tệ lên tính thanh khoản của thị trường chứng khoán Fujimoto (2003) đã thực hiên một bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô với tính thanh khoản của thị trường. Ông đã sử dụng mô hình VAR để khảo sát mối tương quan này qua bốn thập kỷ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ này đã thay đổi đáng kể theo thời gian và ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên tính thanh khoản mạnh hơn vào trước những năm đầu thập niên 1980, khi mà chu kỳ kinh doanh có nhiều biến động. Trong nửa giai đoan đầu của thời kỳ lấy mẫu, lạm phát và chính sách tiền tệ là những thành tố tối quan trọng trong việc giải thích sự biến động của tính thanh khoản. Tính thanh khoản của thị trường được cải thiện đáng kể trong một quãng thời gian dài trước các cú sốc dương trong dự trữ không vay mượn và các cú sốc âm trong lạm phát do chi phí đẩy và lãi suất tài trợ liên ngân hàng. Cú sốc kinh tế vĩ mô này còn tác động đến các biến số khác như tỷ suất sinh lợi thị trường, độ biến động giá và vòng quay chứng khoán (TO) - vốn được xem là một thước đo quan trọng cho tính thanh khoản.
Từ đó, kết quả cho thấy rằng các biến số vĩ mô không chỉ ảnh hưởng lên tính thanh khoản một cách trực tiếp mà còn gián tiếp tác động lên nó thông qua tác động lên các biến số thị trường. Trong nửa sau của chu kỳ lấy mẫu, tỷ suất sinh lợi thị trường, độ biến thiên và TO là những thành tố duy nhất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 7 còn lại ảnh hưởng đến tính thanh khoản, tuy nhiên ảnh hưởng của chúng nhỏ hơn so với giai đoạn trước đó. Nhìn chung, tính thanh khoản thị trường chứng khóa đã trở nên linh hoạt hơn ở cả 2 cấp độ thị trường và cả các cú sốc tổng thể của nền kinh tế. Eisfeldt (2004) đã phát triển một mô hình thực nghiệm nhằm theo dõi sự biến động của tính thanh khoản trong thị trường hàng hóa.
Ông phát hiện rằng sản lượng cao hơn sẽ dẫn đến sự tăng lên trong tính thanh khoản của thị trường chứng khoán. Thêm vào đó, tính thanh khoản cũng sẽ làm khuếch đại các thay đổi trong sản lượng. Sản lượng cao hàm ý rằng các nhà đầu tư bắt đầu thực hiện các dự án với quy mô và mức độ lớn hơn, điều này sẽ làm gia tăng rủi ro cho thu nhập của họ. Với rủi ro thu nhập lớn hơn sẽ dẫn đến doanh thu đòi hỏi đến từ các dự án này lớn hơn, từ đó gián tiếp làm tăng tính thanh khoản Khi xem xét tác động của bảy nhân tố vĩ mô trên thị trường chứng khoán Mỹ, ba tác giả Chen-Roll-Ross (1986) đã kết luận rằng, bản thân lãi suất không phải là nhân tố tác động đến TSSL của chứng khoán nên nó không tác động đến thanh khoản thị trường chứng khoán.
Zhou (1996) dựa trên nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp hồi quy giữa lãi suất ngân hàng và giá chứng khoán đã kết luận rằng lãi suất ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với giá cổ phiếu và thanh khoản của nó, đặc biệt là trong dài hạn. Ibrahim và Yusoff (2001) khi nghiên cứu tại Malaysia đã chỉ ra rằng giá chứng khoán dường như chịu nhiều tác động hơn từ những thay đổi của các nhân tố mang tính nội địa, điển hình là cung tiền. Đặc biệt, cung tiền mang lại một hiệu ứng dương cho giá chứng khoán trong ngắn hạn, nhưng lại tác động ngược chiều nếu xét trong dài hạn. Và như vậy, trong ngắn hạn, một chính sách tiền tệ mở rộng làm TTCK trở nên sôi động hơn, thanh khoản tăng nhanh.
Còn trong dài hạn, chính sách tiền tệ rộng lại mang lại tác động xấu cho TTCK. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 8 Al- Qenae, Li và Wearing (2002) phát hiện rằng lãi suất có mối quan hệ ngược chiều với giá cổ phiếu trên TTCK Kuwait. Mức lãi suất cao làm giảm giá chứng khoán, làm cho thanh khoản chứng khoán kém hơn. Trong bài nghiên cứu “An empirical analysis of stock and bond market liquidity” của T.
Chordia et al. (2005) và “Stock and bond market liquidity: A long-run empirical analysis” của Goyenko và Ukhov (2009) đã đề xuất rằng CSTT tác động đến tính thanh khoản thông qua tác động của nó lên sự biến động tỷ suất sinh lợi, lãi suất và giá cả tài sản. Trong bài nghiên cứu của mình, T.Chordia et al (2005) sử dụng mô hình VAR để xem xét tác động của CSTT lên tính thanh khoản của thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán thông qua ảnh hưởng của nó lên lên sự biến động TSSL, lãi suất và giá cả tài sản. Cụ thể, bằng cách xem xét tính thanh khoản ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô trên nhiều loại tài sản khác nhau, nhóm tác giả kết luận rằng trong giai đoạn khủng hoảng, chính sách tiền tệ mở rộng sẽ đi kèm với một sự tăng lên tạm thời trong tính thanh khoản của thị trường chứng khoán.
Goyenko và Ukhov (2009) cũng tìm thấy những bằng chứng quan trọng cho thấy mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tính thanh khoản ở thị trường Mỹ trong giai đoạn từ năm 1962 đến 2003. Cụ thể, một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm giảm đi tính thanh khoản của thị trường. Thêm vào đó, một sự gia tăng trong độ lệch chuẩn của TSSL sẽ dự báo một sự sụt giảm trong tính thanh khoản thị trường. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng chỉ rằng tính kém thanh khoản ở thị trường trái phiếu hoạt động như một kênh truyền dẫn mà thông qua đó các cú sốc tác động của chính sách tiền tệ sẽ được chuyển dịch vào thị trường chứng khoán.
Brunnermeier và Pedersen (2009) đã phát triển mô hình xác định mối tương tác giữa tính thanh khoản thị trường của tài sản với tính thanh khoản của nguồn tài trợ. Nhà đầu tư là những nhân tố cung cấp tính thanh khoản cho thị trường, và điều này tùy thuộc vào khả năng nguồn tài trợ của họ. Ngược lại, khả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam 9 năng tài trợ của các nhà đầu tư, nguồn vốn và các khoản ký quỹ, lại tùy thuộc vào tính thanh khoản thị trường của tài sản. Hai tác giả chứng minh được rằng, dưới một số điều kiện nhất định, các khoản ký quỹ (margin) trở nên bất ổn định và tính thanh khoản thị trường và tính thanh khoản của nguồn tài trợ sẽ tác động tương hỗ lẫn nhau.
Mô hình này còn giải thích được một số vấn đề quan trọng trong thực nghiệm như: Thứ nhất, tính thanh khoản của nguồn tài trợ đôi khi bị sụt giảm hoàn toàn, tác giả giải thích điều này là do tính biến động của các khoản ký quỹ, xuất phát từ việc nhà đầu tư nhận thông tin không chính xác và thị trường có tính bất ổn cao. Thứ hai, tính thanh khoản thị trường và tính chất dễ biến động của tính thanh khoản của nguồn tài trợ có mối tương quan với nhau do những thay đổi trong điều kiện tài trợ sẽ ảnh hưởng đến khả năng cung ứng thanh khoản thị trường của các nhà đầu cơ. Thứ ba, tính thanh khoản thị trường có mối tương quan chặt chẽ với độ biến động của tài sản, vì giao dịch càng nhiều tài sản có tính biến động cao thì càng đòi hỏi nhiều khoản ký quỹ hơn.