Chương 1: Giới thiệu về đề tài. Ở chương này, tác giả nêu ra lý do chọn đề tài, mục tiêu và vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về thị trường hiệu quả. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đó về thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng vừa cũng như đưa ra một số tổng kết liên quan từ việc tìm hiểu về các nghiên cứu này.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các phương pháp và các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Nghiên cứu về mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong chương này, tác giả tiến hành kiểm định mức độ hiệu quả yếu và hiệu quả vừa của thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ở Chương 3.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu, nêu ra một số gợi ý cho các nhà đầu tư cũng như nhà quản lý thị trường từ kết quả nghiên cứu, đồng thời, phần này cũng đưa ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cho bài nghiên cứu. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ 2. Giả thuyết thị trường hiệu quả Giả thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene Fama trong luận văn tiến sỹ của mình tại Đại học Chicago trong năm 1965.
Giả thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thị trường chứng khoán là hiệu quả khi giá của các chứng khoán trên thị trường phản ánh đầy đủ mọi thông tin có liên quan. Dựa vào mức độ thông tin được phản ánh vào trong giá chứng khoán, thị trường hiệu quả được chia thành ba mức độ là thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng vừa và dạng mạnh. Thị trường hiệu quả dạng yếu cho rằng giá chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin đã công bố trong quá khứ. Điều này có nghĩa là nếu dựa vào thông tin trong quá khứ, nhà đầu tư không thể kiếm được tỷ suất sinh lợi vượt trội hay đánh bại được thị trường.
Trong khi đó, trên thị trường hiệu quả dạng vừa giá chứng khoán không những phản ánh đầy đủ các thông tin công bố trong quá khứ mà còn phản ánh thông tin vừa được công bố. Nhà đầu tư không thể dựa vào thông tin trong quá khứ cũng như thông tin vừa được công bố để tìm kiếm tỷ suất sinh lợi vượt trội cho mình vì ngay khi thông tin được công bố, giá chứng khoán đã thay đổi để phản ánh đầy đủ thông tin vừa công bố. 8 Còn với thị trường hiệu quả dạng mạnh thì giá của chứng khoán đã phản ánh tất cả thông tin công bố trong quá khứ, hiện tại, cũng như các thông tin nội bộ. Với hình thức hiệu quả dạng mạnh, nhà đầu tư không thể tìm kiếm được tỷ suất sinh lợi vượt trội cho dù họ có dựa vào bất cứ thông tin nào đi nữa bởi tất cả các thông tin đều được phản ánh vào giá chứng khoán bao gồm cả thông tin nội bộ.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh dạng yếu và dạng vừa của giả thuyết thị trường hiệu quả có thể đúng, đặc biệt là ở các nước phát triển. Trong khi đó, hầu như chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào trên thế giới cho thấy sự tồn tại của thị trường hiệu quả dạng mạnh bởi để đạt được hình thức hiệu quả mạnh thì thị trường gần như là hoàn hảo khi tất cả các thông tin đều được tức thời phản ánh vào giá chứng khoán. Điều này ngụ ý tất cả các thông tin đều miễn phí và sẵn có đối với mọi nhà đầu tư ở cùng một thời điểm. Do đó, trong các phần tiếp theo của bài nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến hình thức hiệu quả yếu và vừa của thị trường.
Bằng chứng thực nghiệm về thị trường hiệu quả dạng yếu Lee (1992) sử dụng kiểm định tỷ lệ phương sai để xem xét bước đi ngẫu nhiên trong tỷ suất sinh lợi cổ phiếu hàng tuần của Mỹ và mười nước công nghiệp khác trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1988 trong bài “Do stock Prices follow Random Walk? Some international Evidence” cho rằng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu hàng tuần ở đa số các quốc gia này theo bước đi ngẫu nhiên. Trong khi đó, Ojah và Karemera (1999) sử dụng phương pháp kiểm định tỷ lệ phương sai cũng như mô hình ARIMA cho tỷ suất sinh lợi chứng khoán từ trước năm 1999 trong bài 9 “Random Walks and Market Efficiency Tests of Latin American” đã không thể bác bỏ mức độ hiệu quả dạng yếu đối với các thị trường chứng khoán Argentina, Brazil, Chile và Mexico. Cheung và Countts (2001) sử dụng kiểm định tỷ lệ phương sai để kiểm định giả thuyết bước đi ngẫu nhiên của chỉ số Hang Seng trên sàn chứng khoán Hồng Kông trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1997 trong bài “A note on weak form market efficiency in security prices: evidence from the Hong Kong stock exchange” cho thấy rằng chỉ số Hang Seng theo bước đi ngẫu nhiên và do đó thị trường chứng khoán Hồng Kông đạt hình thức hiệu quả yếu. Sau đó một năm, Abraham (2002) đã kiểm định các chỉ số thị trường chứng khoán ở Bahrain, Kuwait, Ả Rập Saudi với dữ liệu được thu thập đến năm 2002 trong bài “Testing the Random Walk Behavior and Efficiency of the Gulf Stock Markets” và bác bỏ giả thiết hiệu quả yếu trên các thị trường này bằng kiểm định tỷ lệ phương sai và kiểm định chuỗi.
Ở thị trường châu Âu, Worthington và Higgs (2004) đã kiểm định bước đi ngẫu nhiên trên 16 thị trường phát triển và bốn thị trường chứng khoán mới nổi từ năm 1987-2003 bằng các phương pháp khác nhau bao gồm kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi, kiểm định nghiệm đơn vị trong nghiên cứu “Random walks and market efficiency in European equity markets”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng giả thuyết bước đi ngẫu nhiên không bị bác bỏ trên 16 thị trường chứng khoán phát triển nhưng giả thiết này bị bác bỏ trên 4 thị trường chứng khoán mới nổi. 10 Theo sau nghiên cứu của Worthington và Higgs trên thị trường châu Âu, Dorina (2006) sử dụng kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi, kiểm định BDS để kiểm định hình thức hiệu quả yếu ở các quốc gia Rumani, Hungary, Cộng Hòa Séc, Lithuania, Ba Lan, Slovakia, Slovenia và Thổ Nhĩ Kỳ trong bài “Testing efficiency of the stock market in emerging economies”. Kết quả kiểm định cho thấy thị trường chứng khoán ở Cộng Hòa Séc, Slovenia, Rumani và Lithuania không hiệu quả, trong khi các thị trường còn lại thì hiệu quả dạng yếu.
Với thị trường châu Phi, Khazali và các cộng sự (2007) sử dụng kiểm định chuỗi và kiểm định tỷ lệ phương sai để kiểm định mức hiệu quả yếu của thị trường các nước thuộc khối Bắc Phi và Trung Phi trong bài “A New Variance Ratio Test of Random Walk in Emerging Markets”. Kết quả kiểm định ủng hộ mức độ hiệu quả yếu trên thị trường chứng khoán ở các quốc gia này. Kima và Shamsuddinb (2008) kiểm định tính hiệu quả của giá cổ phiếu trên một nhóm thị trường châu Á dựa theo dữ liệu hàng tuần và hàng ngày từ năm 1990 đến năm 2007 trong bài “Are Asian stock markets efficient? Evidence from new multiple variance ratio tests”. Bằng việc sử dụng kiểm định tỷ lệ phương sai, nghiên cứu cho thấy rằng thị trường Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan hiệu quả trong hình thức yếu.
Các thị trường khác gồm Indonesia, Malaysia và Philippines không cho thấy tính hiệu quả. Singapore và Thái Lan thì thị trường trở nên hiệu quả sau khủng hoảng châu Á. Cũng trong năm 2008, Marashdeh và Shrestha sử dụng kiểm định Dickey Fuller và Phillips Peron trong bài “Efficiency 11 in Emerging Markets – Evidence from the Emirates Securities Market” cho thấy thị trường các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất hiệu quả ở dạng yếu. Trở lại với thị trường châu Phi, Batuo và cộng sự (2009) xem xét các quốc gia Ai Cập, Ma Rốc, Nam Phi và Tunisia bằng các kiểm định tham số và phi tham số trong bài “Testing the weak-form market efficiency and the day of the week effects of some African countries” đã bác bỏ tính hiệu quả yếu trong các thị trường này (ngoại trừ Nam Phi).
Rapuluchukwu (2010) trong nghiên cứu “The Efficient market Hypothesis: Realities from the Nigerian Stock Market” kết luận rằng thị trường chứng khoán Nigeria là hiệu quả trong hình thức yếu bằng kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi trên chỉ số thị trường chứng khoán Nigeria từ trước năm 2010. Maria (2010) kiểm định mức hiệu quả yếu trên tỷ suất sinh lợi theo ngày và tuần của chỉ số thị trường chứng khoán ở Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hy lạp và Bồ Đồ Nha từ năm 1993 đến năm 2007 bằng kiểm định chuỗi và kiểm định tỷ lệ phương sai trong bài “Efficient market hypothesis in European stock markets”. Kết quả kiểm định cho thấy thị trường Đức và Tây Ban Nha là hiệu quả yếu, trong khi các thị trường còn lại thì chưa hiệu quả trong hình thức yếu. Oskooe và Shamsavari (2010) xem xét giả thuyết bước đi ngẫu nhiên trên thị trường chứng khoán Iran trong bài “The Random Walk Hypothesis in Emerging Stock Market”.
Bằng cách áp dụng kiểm định Dickey Fuller và Phillips Peron trong giai đoạn 1999-2009 cho thấy chỉ số giá chứng khoán Iran với dữ liệu hàng 12 ngày theo bước đi ngẫu nhiên. Cũng trong năm 2010, Abdmoulah trong bài nghiên cứu “Testing the evolving efficiency of Arab stock markets” chỉ ra rằng thị trường chứng khoán Ả Rập không hiệu quả dạng yếu bằng cách sử dụng mô hình GARCH (1,1) cho 11 cổ phiếu Ả Rập trong giai đoạn kết thúc vào tháng 3 năm 2009. Mayowa (2012) đã sử dụng kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi để kiểm định mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán Nigeria trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2010 trong bài “Testing the Weak Form of Efficient Market Hypothesis in Nigerian Capital Market”. Kết quả kiểm định cho thấy thị trường chứng khoán Nigeria không hiệu quả trong hình thức yếu.
Cũng nghiên cứu về mức độ hiệu quả yếu của thị trường chứng khoán Nigeria, Victor K. Gimba (2012), sử dụng kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi và kiểm định tỷ lệ phương sai trên tỷ suất sinh lợi trước và sau điều chỉnh “thin trading” của chỉ số thị trường và 5 cổ phiếu niêm yết đầu tiên trên sàn chứng khoán Nigeria trong bài “Testing the Weak-form Efficiency Market Hypothesis: Evidence from Nigerian Stock Market”. Kết quả kiểm định cho thấy thị trường chứng khoán Nigeria chưa đạt hiệu quả yếu.