CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở luận về rủi ro hệ thống của cổ phiếu 1. Rủi ro và rủi ro hệ thống trong đầu tư cổ phiếu 1. Khái niệm về rủi ro của cổ phiếu và phân loại rủi ro a.
Khái niệm về rủi ro của cổ phiếu Rủi ro của cổ phiếu được thể hiện qua sự không chắc chắn hay sự thay đổi của tỷ suất sinh lời kỳ vọng của một cổ phiếu trong quá trình đầu tư (Lê Thị Xuân, 2015). Mức độ rủi ro của một khoản đầu tư được phản ánh thông qua mức độ biến động của tỷ suất sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng ban đầu. Mọi nhà đầu tư (NĐT) tham gia đầu tư chứng khoán nói chung cũng như đầu tư cổ phiếu nói riêng đều phải đối mặt với rủi ro. Do đó, họ luôn cố gắng tìm cách để giảm thiểu những rủi ro và tối đa hóa tỷ suất sinh lời (TSSL) trong quá trình đầu tư thông qua việc phân loại và phân tích các đặc điểm của từng loại rủi ro.
Phân loại rủi ro trong đầu tư cổ phiếu Dựa trên các nhân tố gây ra biến động giá cổ phiếu và phạm vi ảnh hưởng của chúng, tổng thể rủi ro được chia thành 2 loại: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư Nguồn: Tô Kim Ngọc, Trần Thị Xuân Anh (2020), Phân tích và đầu tư chứng khoán, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội 3 * Rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống là loại rủi ro tác động tất cả các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và các doanh nghiệp, hình thành do sự biến động chung của TSSL trên thị trường (Lê Thị Xuân, 2015). * Rủi ro phi hệ thống Rủi ro phi hệ thống hay còn gọi là rủi ro cá biệt, là loại rủi ro xảy ra chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một vài ngành nghề, doanh nghiệp (Lê Thị Xuân, 2015). Các nhân tố gây ra rủi ro cá biệt chủ yếu mang tính chất vi mô, có tác động đến những lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp nhất định chẳng hạn như năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp hay rủi ro tăng giá của một số nguyên vật liệu đầu vào (than cốc, dầu,.) gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của những lĩnh vực liên quan.
Một vài rủi ro phi hệ thống phổ biến có thể kể đến như rủi ro tài chính, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng: - Rủi ro tài chính: đây là rủi ro liên quan đến việc vay nợ và cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tỷ lệ nợ trong cơ cấu nguồn vốn cao sẽ làm tăng mức độ rủi ro tài chính. Khi vay nợ, công ty sẽ phải ưu tiên thanh toán nợ cho chủ nợ trước và điều này làm ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như việc chi trả cổ tức cho cổ đông. Do đó, trong quá trình đầu tư, các NĐT có thể căn cứ vào mức độ rủi ro tài chính của mỗi cổ phiếu để xây dựng danh mục đầu tư tốt nhất, đồng thời có sự chọn lọc cổ phiếu để đa dạng hóa danh mục và giảm thiểu rủi ro tài chính.
- Rủi ro thanh khoản: tính thanh khoản của một chứng khoán là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của chứng khoán đó (Tô Kim Ngọc, Trần Thị Xuân Anh, 2020). Khi xem xét tính thanh khoản, các NĐT thường quan tâm đến 2 yếu tố là thời gian và chi phí để một chứng khoán có thể chuyển đổi sang tiền mặt. Vì vậy, một cổ phiếu có mức độ rủi ro thanh khoản cao tức là có tính thanh khoản kém, có thể do việc bán cổ phiếu đó diễn ra trong thời gian dài hoặc do chi phí để thực hiện giao dịch đó lớn hơn so với chi phí giao dịch bình thường. Khi đó, thanh khoản cũng là một trong những yếu tố được các NĐT quan tâm trong quá trình đầu tư.
- Rủi ro tỷ giá: theo Lê Thị Xuân (2015), “rủi ro tỷ giá là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhập hay chi phí bằng ngoại tệ trong tương lai do sự 4 biến động của tỷ giá hối đoái”. Rủi ro tỷ giá xảy ra khi doanh nghiệp sử dụng đồng ngoại tệ để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Một doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài không chỉ chịu rủi ro giá cả vật liệu gia tăng mà còn bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỷ giá. Khi tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng việt nam tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí đầu vào và lợi nhuận của công ty cũng như làm cho mức độ không chắc chắn về dòng thu nhập của NĐT tăng lên.
- Rủi ro tín dụng: theo Điểm a, Khoản 24, Điều 2, Thông tư 41/2016/TT – NHNN: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này”. Trong một doanh nghiệp, rủi ro tín dụng có thể xảy ra khi doanh nghiệp bán chịu hàng hóa và đối tác hay khách hàng của họ không có khả năng chi trả tiền hàng khi đến hạn thanh toán. Khi đó, doanh thu từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của công ty sẽ bị ảnh hưởng, tác động tiêu cực gián tiếp đến cổ đông hay các NĐT của công ty. Tóm lại, rủi ro phi hệ thống là rủi ro được gây ra bởi các yếu tố gắn liền với tính chất của ngành nghề, doanh nghiệp hay các cơ hội đầu tư cụ thể.
Do đó, các NĐT hoàn toàn có thể lọc chọn các cổ phiếu phù hợp nhằm đa dạng hóa danh mục, giảm thiểu rủi ro cá biệt trong quá trình đầu tư. Rủi ro hệ thống trong đầu tư cổ phiếu Rủi ro hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường là loại rủi ro bị gây ra bởi sự biến động chung của tỷ suất sinh lời trên thị trường và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh doanh và các doanh nghiệp (Lê Thị Xuân, 2015). Do rủi ro hệ thống tác động đến tất cả các ngành nghề, công ty nên việc NĐT chọn lọc mã cổ phiếu, thực hiện đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro là vô nghĩa. Chính vì vậy, rủi ro hệ thống của cổ phiếu không thể loại bỏ bằng việc đa dạng hóa và các NĐT cũng thường gọi rủi ro hệ thống là rủi ro không thể đa dạng hóa.
Các nhân tố gây ra rủi ro hệ thống 5 Rủi ro hệ thống thường gây ra bởi các yếu tố vĩ mô như sự thay đổi trong chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, sự gia tăng của lạm phát hay biến động thị trường thế giới: - Lạm phát: “Mức lạm phát dự tính ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lời dự tính danh nghĩa của khoản đầu tư” (Tô Kim Ngọc, Trần Thị Xuân Anh, 2020). Nếu lạm phát dự tính có xu hướng tăng lên, NĐT sẽ yêu cầu tỷ suất sinh lời cao hơn để đảm bảo mức sinh lời thực tế không bị biến động quá nhiều. - Sự thay đổi trong các chính sách vĩ mô: Tô Kim Ngọc và Trần Thị Xuân Anh (2020) đã viết: các chính sách vĩ mô của một quốc gia bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách thu nhập và sự thay đổi của các chính sách này sẽ ảnh hưởng đến cung cầu vốn trên thị trường tài chính. Việc nới lỏng, thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua cung ứng tiền hay sự thay đổi trong chính sách tài khóa nhờ các công cụ như thuế hay chi tiêu chính phủ sẽ tác động đến tất cả các chủ thể trong nền kinh tế cũng như quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tài chính.
Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra trong ngắn hạn và nền kinh tế sẽ nhanh chóng điều tiết để thích ứng với những thay đổi, đưa thị trường về điểm cân bằng mới phù hợp với sự phát triển dài hạn của nền kinh tế. Tóm lại, các rủi ro hệ thống là một phần của tổng thể rủi ro. Loại rủi ro này bị gây ra bởi các yếu tố vĩ mô và tác động đến toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia và tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Chính vì vậy, rủi ro hệ thống không thể giảm bớt rủi ro bằng việc đa dạng hóa.
Tuy nhiên, NĐT vẫn có thể tính toán hay lượng hóa loại rủi ro này để xây dựng các kế hoạch đầu tư phù hợp với mục tiêu rủi ro và sinh lời kỳ vọng. Đo lường rủi ro hệ thống của cổ phiếu bằng hệ số Beta 1. Mô hình CAPM và hệ số Beta a. Lý thuyết danh mục đầu tư của Markowitz “Lý thuyết danh mục đầu tư cho rằng các nhà đầu tư luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận từ một tập hợp các tài sản đầu tư tương ứng với mức rủi ro của nó.
6 Các giả định của lý thuyết danh mục đầu tư (DMĐT): 1. DMĐT nên gồm tất cả các tài sản, bao gồm cả tài sản nợ và có. Đưa tất cả các tài sản vào DMĐT vì mối tương quan giữa TSSL của chúng là quan trọng. Chính vì vậy, một DMĐT tối ưu không những là một danh mục gồm các tài sản có TSSL tốt mà còn phải xem xét mối tương quan TSSL của chúng.
Harry Markowitz (1952, 1959) đã đưa ra thước đo cho mức sinh lời và rủi ro của một DMĐT và nó được xây dựng dựa trên một số giả định về hành vi của NĐT như sau: 1. Xem xét các cơ hội đầu tư dựa trên TSSL kỳ vọng cho mỗi giai đoạn. Các NĐT luôn cố gắng tối đa hóa độ thỏa dụng. Dự đoán mức độ rủi ro dựa trên mức biến động của TSSL.
Dựa vào 2 yếu tố rủi ro và mức sinh lời để ra quyết định đầu tư. Đối với một mức sinh lời cho trước NĐT sẽ ưu tiên lựa chọn mức độ rủi ro thấp và ngược lại. Khi đó, TSSL kỳ vọng của một DMĐT bằng TSSL kỳ vọng của từng tài sản trong danh mục nhân với tỷ trọng tương ứng: E(Rport) = ∑ni=1 wi × R i (1.1) Trong đó: E(Rport) là TSSL kỳ vọng của DMĐT Wi là tỷ trọng của tài sản i trong danh mục Ri là TSSL kỳ vọng của tài sản i Mức độ rủi ro của danh mục được Markowitz tính theo công thức độ lệch chuẩn: σport = √∑ni=1 wi2 σ2i + ∑ni=1 ∑nj=1 wi wj covij (1.