CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN HÀNH VI VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương 1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm. Các quan điểm khác nhau về CSTT đã được đưa ra thảo luận qua một khoảng thời gian dài và trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu và các quốc gia trên thế giới. Một số ví dụ có thể kể đến đó là: bằng việc khảo sát thực tế quá trình phát triển kinh tế Mỹ trong khoảng thời gian gần một thế kỷ, nghiên cứu của Friedman (1956) đã chỉ ra mối liên hệ rất rõ ràng giữa sản lượng và thu nhập với sự biến động của lượng tiền cung ứng (xét theo khái niệm khối tiền rộng). Ông cũng đã chứng minh được sự tồn tại hiển nhiên của cơ chế lan truyền ảnh hưởng từ cung ứng tiền - lãi suất - sản lượng - thu nhập - nhu cầu tiền.
Bằng cách tạo ra sự biến động về tiền tệ (mở rộng hay thu hẹp), các nhà quản lý có thể tác động gián tiếp đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô và hướng dẫn nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế. Việc chủ động tạo ra các biến động về tiền tệ (xét cả về khối lượng tiền và giá tiền -lãi suất) với một mục đích xác định là bản chất của CSTT. Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau đưa ra những quan điểm khác nhau về CSTT. Theo Luật NHNN năm 2010 đã sửa đổi so với Luật NHNN năm 1997 quy định: “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”.
Theo như nghiên cứu của Yeyati và Sturzenegger (2010), CSTT được hiểu rằng: “CSTT là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ, thường hướng tới một mức lãi suất mong muốn để đạt được mục đích ổn định và tăng trưởng 13 kinh tế”. Theo Mishkin (2013): “CSTT là quá trình quản lý cung tiền của NHTW nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế”. Bên cạnh đó, FED đưa ra quan điểm rằng: “CSTT liên quan đến các hành động can thiệp vào tính sẵn có và chi phí của tiền cũng như tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu mà Quốc hội đề ra”. Tuy nhiên, nhìn chung lại thì các định nghĩa trên đều cùng hướng đến một mục tiêu là ổn định dòng tiền để tăng trưởng kinh tế.
Theo nghĩa rộng, CSTT là quá trình điều hành khối lượng tiền tệ cung ứng trong một nền kinh tế bằng cách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối do cơ quan quản lý tiền tệ là NHTW tổ chức. Vì CSTT có khả năng tác động vào thị trường tiền tệ, qua đó tác động đến tổng cầu và sản lượng nên nó trở thành một công cụ ổn định kinh tế hữu hiệu của chính phủ trong việc ổn định giá cả, từ đó thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển và tăng trưởng - như kiềm chế lạm phát, đạt được toàn dụng lao động hay giảm tỷ lệ thất nghiệp. Từ đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về CSTT mà bài nghiên cứu sử dụng đó chính là chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW (hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) điều hành. NHTW sẽ thực hiện CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của chính phủ như ổn định giá cả, tỷ lệ thất nghiệp, từ đó nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế.
Hiểu một cách đơn giản thì CSTT là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế mà nhà nước để điều hành việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu vĩ mô của Chính phủ trong từng khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, CSTT có thể chia làm 2 loại: chính sách mở rộng và chính sách thắt chặt: ● CSTT mở rộng: CSTT mở rộng còn được gọi là CSTT nới lỏng, được điều hành bởi NHTW với mục đích làm cho mức cung ứng tiền tệ được mở rộng hơn mức bình thường trong một nền kinh tế, từ đó khiến cho lãi suất suy giảm và làm tăng tổng cầu. Điều đó sẽ tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động và phát triển đầu tư để mở rộng quy mô kinh doanh. Khi quy mô kinh doanh được mở rộng thì đồng nghĩa với quy mô của nền kinh tế được mở rộng, từ đó làm thu nhập tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm.
14 Trong nền kinh tế vĩ mô, CSTT này sẽ được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế phát triển kém, tỷ lệ thất nghiệp còn tồn tại nhiều. Bởi vậy cho nên chính sách mở rộng tiền tệ có thể được hiểu là CSTT chống suy thoái. ● CSTT thắt chặt: CSTT thắt chặt hay còn gọi là CSTT thu hẹp với mục đích là giảm bớt lượng cung ứng tiền trong nền kinh tế do sự tác động của NHTW, qua đó làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên, dẫn đến tổng cầu ngày càng bị thu nhỏ, và đó là nguyên nhân làm mức giá trên thị trường giảm. Thông thường CSTT thắt chặt được áp dụng cho nền kinh tế của một quốc gia có lạm phát ngày càng gia tăng, từ đó có thể thấy rằng, CSTT thắt chặt đồng nghĩa với CSTT chống lạm phát.
Tùy vào tình hình hoạt động của nền kinh tế và các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo từng giai đoạn nhất định, NHTW có thể thực hiện một trong hai chính sách tệ tiền nói trên để mang đến sự ổn định cho nền kinh tế của đất nước, từ đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng hơn.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ Mục tiêu của CSTT được chia thành 3 loại chính đó là: (i) Mục tiêu hoạt động, (ii) Mục tiêu trung gian và (iii) Mục tiêu cuối cùng. Nguyên nhân là do vào mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau thì trường lại có những đặc điểm khác nhau, vì thế NHTW cần có những mục tiêu đa dạng cho từng trường hợp để nền kinh tế có thể phát triển ổn định.1: Khung điều hành CSTT Quyết Công cụ Mục tiêu Mục tiêu Mục tiêu định chính CSTT hoạt động trung gian cuối cùng sách Các biến số chỉ báo Nguồn: Phạm Thị Hoàng Anh (2015) Mục tiêu cuối cùng là mục tiêu mà NHTW hướng tới và để có thể đạt được mục tiêu cuối cùng, NHTW thực hiện thông qua mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung 15 gian. NHTW đã xây dựng khung điều hành CSTT để đảm bảo điều hành CSTT đi đúng hướng và có hiệu lực tốt nhất. Khung điều hành CSTT được cấu tạo như sau: trước tiên NHNN sẽ đặt ra những mục tiêu quan trọng nhất hay mục tiêu cuối cùng mà CSTT hướng tới; sau đó, để thực hiện được những mục tiêu này, những mục tiêu hoạt động và mục tiêu trung gian sẽ được đặt ra một cách hoàn chỉnh, thống nhất.2: Mối liên hệ giữa các mục tiêu của CSTT Công cụ Mục tiêu Mục tiêu Mục tiêu CSTT hoạt động trung gian hoạt động Công ăn việc làm Lãi suất Khối tiền tệ Tăng trưởng Tỷ giá Cung tiền M0 (M1, M2, M3) Ổn định giá cả OMOs Các loại lãi Ổn định lãi suất Dự trữ bắt suất Lãi suất kỳ hạn Ổn định TTTC buộc Ổn định thị trường Tăng trưởng tín ngoại hối dụng Nguồn: Mishkin và Eakins (2013) 1.1 Mục tiêu hoạt động Theo hình 1.2, ở mục tiêu hoạt động, NHTW có thể đặt mục tiêu là cơ sở tiền tệ hoặc là lãi suất thị trường tiền tệ.
Cơ sở tiền tệ còn được gọi là đồng tiền có quyền lực, bởi nó chính là xuất phát điểm của việc cung tiền. Lãi suất thị trường tiền tệ là tỷ lệ mà tại đó ngân hàng cho vay lẫn nhau trong kỳ hạn ngắn nhất các khoản tín dụng qua đêm. Chỉ tiêu này thường được lựa chọn trong điều kiện thị trường tài chính tương đối phát triển. Mục tiêu hoạt động thường được NHTW ưu tiên lựa chọn là lãi suất thị trường tiền tệ, do mối quan hệ giữa lãi suất với các biến số kinh tế - tiền tệ thường rõ rệt và ổn định hơn.
Theo quy tắc Taylor, NHTW cần phải duy trì lạm phát thấp và ổn định, tránh những sự biến động lớn của sản lượng và việc làm thông qua công cụ lãi suất. Khi lạm phát tăng cao hơn mức mục tiêu thì NHTW sẽ tăng lãi suất và ngược lại, nếu sản lượng thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng thì NHTW sẽ giảm lãi suất.2 Mục tiêu trung gian Mục tiêu trung gian bao gồm các tiêu chí mà NHTW đã lựa chọn để có thể hoàn thành được mục tiêu cuối cùng của CSTT.1, có thể thấy được mục tiêu trung gian bao gồm tổng cung tiền (M1, M2 hoặc M3) hoặc mức lãi suất thị trường (ngắn hạn và dài hạn). NHTW không thể tác động trực tiếp đến các mục tiêu cuối cùng mà chỉ có thể kiểm soát được các chỉ tiêu ở mục tiêu trung gian. Chính vì thế nên các mục tiêu trung gian này vừa phải được xác định một cách nhanh chóng, chính xác mà vừa phải có mối liên hệ chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động được đến mục tiêu cuối cùng.
Đây là điều kiện quan trọng nhất.3 Mục tiêu cuối cùng “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”- Luật NHNN năm 2010 đã sửa đổi và quy định. Từ điều luật này, ta có thể thấy rằng NHNN Việt Nam theo đuổi CSTT đa mục tiêu. Mục tiêu cuối cùng của CSTT được thể hiện thông qua vài chỉ tiêu trong số 6 chỉ tiêu sau: (i) Ổn định giá cả, (ii) Ổn định tỷ giá hối đoái, (iii) Ổn định lãi suất, (iv) Ổn định thị trường tài chính, (v) Tăng trưởng kinh tế, (vi) Giảm tỷ lệ thất nghiệp.