đặt vấn đề cần phải tính toán đến tất cả các khía cạnh khác nhau của chất lƣợng và mô tả các 3 INQAAHE: International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education 4 AUN: ASEAN University Network 10 z đối tƣợng có liên quan đến chất lƣợng GDĐH bao gồm: SV, nhà tuyển dụng, Chính phủ, trƣờng đại học, nhân viên. Mỗi cá nhân khi tham gia hoạt động GDĐH đều có mục tiêu riêng về chất lƣợng, do đó AUN quan niệm rằng: “Chất lượng là một vấn đề thỏa thuận giữa những bên có liên quan” [20, tr. Trong quá trình thỏa thuận, mỗi cá nhân có liên quan cần thiết lập rõ ràng những yêu cầu của mình. Trƣờng đại học đóng vai trò là ngƣời điều phối cuối cùng, cố gắng đáp ứng yêu cầu khác nhau của tất cả các đối tƣợng có liên quan.
Các yêu cầu của tất cả các đối tƣợng có liên quan đƣợc chuyển thành sứ mạng và mục tiêu của nhà trƣờng cũng nhƣ mục tiêu của từng khoa, từng CTĐT. Khi một trƣờng đại học đặt ra các mục tiêu phù hợp với các điều kiện và đạt đƣợc các mục tiêu đó, có thể nói rằng trƣờng có “chất lƣợng”. Đến nay, quan điểm“Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu” đƣợc sử dụng phổ biến nhất trong KĐCL GDĐH nói chung. Luận án sử dụng khái niệm về chất lƣợng giáo dục đƣợc nêu trong hai văn bản quy phạm của Bộ GD&ĐT, theo đó: - “Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của CSGD, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước5”; - “Chất lượng giáo dục của CTĐT là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của CTĐT của CSGD, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học; phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực chuyên môn nhất định để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước6”.
Khái niệm chất lƣợng giáo dục trên đây đƣợc sử dụng để Bộ GD&ĐT xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí ĐGCLGD đối với CSGD và CTĐT hiện hành của Việt Nam. Trong quá trình áp dụng, các CSGD cần căn cứ sứ mạng, mục tiêu giáo dục 5 Thông tƣ số 62/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ GD&ĐT về Quy trình và chu kỳ KĐCLGD trƣờng đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp 6 Thông tƣ số 38/2013/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 11 năm 2013 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT về Quy trình và chu kỳ KĐCLGD chƣơng trình đào tạo của các trƣờng đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp 11 z của mình để TĐG mức độ đạt các tiêu chuẩn, tiêu chí chất lƣợng, đồng thời, các tổ chức ĐGCL sử dụng làm căn cứ đánh giá, công nhận chất lƣợng của các đối tƣợng đƣợc đánh giá. Khái niệm liên quan đến kiểm định chất lượng giáo dục Trong giáo dục đại học, ĐBCL là cơ chế quản lý chất lƣợng quan trọng mà các nƣớc phát triển lựa chọn. Theo quan điểm của Tổ chức Bộ trƣởng Giáo dục các nƣớc Đông Nam Á SEAMEO7 (2002), “ĐBCL là hệ thống những quan điểm, chủ trương, chính sách, mục tiêu, hành động, công cụ, quy trình và thủ tục, mà thông qua sự hiện diện và sử dụng chúng có thể đảm bảo rằng sứ mạng và mục tiêu đang được thực hiện, các chuẩn mực đang được duy trì và nâng cao”.
Định nghĩa này cũng đƣợc các cơ quan ĐBCL GDĐH trên thế giới chấp nhận và sử dụng rộng rãi (AUN-QA, AQAN,v. Trong lịch sử phát triển các hệ thống ĐBCL trên thế giới, các hoạt động ĐBCL gắn liền với các cơ chế kiểm định, kiểm toán, ĐGCLGD. Các hoạt động ĐBCL bên ngoài (EQA) thƣờng đƣợc các nƣớc phát triển áp dụng trong giáo dục là kiểm toán (Audit) và kiểm định chất lƣợng (Accreditation). Định nghĩa “Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động đánh giá và công nhận mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác”8 đƣợc sử dụng trong KĐCL GDĐH ở Việt Nam hiện nay, luận án vận dụng định nghĩa này để nghiên cứu các chính sách KĐCL GDĐH.
Nhƣ vậy, dựa trên khái niệm về KĐCL GDĐH mà Việt Nam đang áp dụng thì hoạt động KĐCL CSGD mà hai ĐHQG thực hiện trong giai đoạn 2005 đến 2014 chỉ mới dừng lại ở khâu TĐG và ĐGN đƣợc tổ chức để “tập dƣợt”với mục tiêu “tự khám bệnh” để “chữa bệnh”, kết quả ĐGN không phải do một tổ chức KĐCL độc lập triển khai, công nhận và công khai trƣớc xã hội về chất lƣợng. Các hoạt động KĐCL CTĐT mà hai ĐHQG triển khai đƣợc phân thành hai loại, một là do tự hai ĐHQG tổ chức dƣới hình thức các trƣờng thành viên triển khai TĐG và ĐHQG triển khai ĐGN nội bộ; hai là, do tổ chức đánh giá bên ngoài (đặc biệt là AUN-QA) 7 The Southeast Asian Ministers of Education Organization (SEAMEO) 8 Khoản 2, Điều 2, Thông tƣ số 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 về Quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lƣợng giáo dục 12 z đánh giá và công nhận chất lƣợng. Do vậy, trong luận án tác giả sử dụng chung cụm từ là ĐGCL để xem xét các hoạt động KĐCL mà hai ĐHQG đã triển khai đánh giá các CTĐT và CSGD trong giai đoạn 2007 đến 2014. Khái niệm chính sách, chính sách KĐCL GDĐH Căn cứ trên các yếu tố mục tiêu, phân loại hoặc chủ thể ban hành, nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra các định nghĩa khác nhau về chính sách.
Theo William Jenkin (1978) (dẫn theo, Nguyễn Hữu Hải [34, tr. 48]), “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm nhà chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi có thẩm quyền”. Hai định nghĩa này nhấn mạnh chính sách công không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó, mà là một tập hợp các quyết định khác nhau của nhà nƣớc có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài. Chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của Nhà nƣớc và bao gồm các giải pháp để đạt đƣợc mục tiêu đã lựa chọn.
Theo Vũ Cao Đàm (2011), “Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra” [26, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam đƣa ra khái niệm:“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung, phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế văn hóa, v.
9 Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, trang 475. 13 z Từ những định nghĩa, quan điểm, quan niệm khác nhau của các học giả về “chính sách”, có thể thấy mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau nhƣng trong quan điểm, quan niệm của các học giả vẫn có những điểm chung về “chính sách” là: chính sách thể hiện quan điểm, mục tiêu và phƣơng hƣớng, giải pháp triển khai chính sách. Có thể thấy, “chính sách” là quyết định mang tính tập thể của Nhà nƣớc về một công việc công trên cơ sở cân bằng lợi ích chung của các bên liên quan. Đồng thời “chính sách” là sự tuyên bố của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc trƣớc xã hội nhằm hƣớng đến những mục tiêu cụ thể trong tƣơng lai và mong muốn đạt đƣợc của hoạt động quản lý Nhà nƣớc.
Đúc rút từ những phân tích trên về “chính sách”, trong luận án này, tác giả quan niệm “chính sách” là tập hợp các quan điểm, mục tiêu của Nhà nƣớc đối với một lĩnh vực cụ thể (kinh tế, chính trị, giáo dục, v.) cùng các phƣơng hƣớng, giải pháp để thực hiện mục tiêu đó trong giai đoạn nhất định; chính sách của Nhà nƣớc đƣợc thể chế hóa bằng văn bản quản lý, điều hành theo từng cấp độ ban hành. Những chính sách do cơ quan hay cấp chính quyền trong bộ máy Nhà nƣớc ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng đƣợc gọi là chính sách công. Việc phân chia các loại chính sách có thể theo chủ thể ban hành chính sách, theo cấp quản lý bao gồm: (i) Cấp Trung ƣơng: Nghị quyết của Đảng; Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ; Quyết định, Thông tƣ của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ v.; (ii) Cấp địa phƣơng: Nghị quyết của Đảng; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân; Quyết định của Lãnh đạo các Sở, ban ngành, đoàn thể, v.; (iii) Cấp cơ quan/đơn vị: Nghị quyết của Đảng; Quyết định của ngƣời đứng đầu cơ quan; v. Bên cạnh việc phân loại chính sách theo cấp quản lý có thể phân chia chính sách theo lĩnh vực (chính sách kinh tế, giáo dục, tài chính, v.), phân loại theo thời gian ban hành (chính sách ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), phân loại theo phạm vi quan hệ, v.
Xét trong lĩnh vực GD&ĐT,“Chính sách giáo dục và đào tạo là một hệ thống các quan điểm, các mục tiêu của nhà nước về giáo dục và đào tạo cùng các phương 14 z hướng, giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đó trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển của đất nước” [43, tr. Chính sách KĐCLGD là một chính sách đặc thù trong chính sách GD&ĐT để quản lý và nâng cao chất lƣợng giáo dục. Từ những quan điểm và những định nghĩa chính sách ở trên, trong luận án tác giả quan niệm“Chính sách kiểm định chất lượng giáo dục đại học là hệ thống các quan điểm, mục tiêu của Nhà nước về kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học cùng các biện pháp để triển khai kiểm định chất lượng giáo dục đại học”. Chủ thể ban hành chính sách công về KĐCL GDĐH là Nhà nƣớc bao gồm Quốc hội, Chính phủ và Bộ GD&ĐT.
Hai ĐHQG triển khai chính sách KĐCL GDĐH bằng việc cụ thể hóa các chủ trƣơng, chính sách về KĐCL GDĐH của Nhà nƣớc thông qua các kế hoạch, chiến lƣợc ĐBCLGD và hệ thống văn bản quản lý, điều hành nội bộ về KĐCL GDĐH.