CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH Chương này giới thiệu cách cô đọng về khái niệm đầu tư và phân loại đầu tư để xác định giới hạn khi phân tích khái niệm (concept) đầu tư. Trên giới hạn loại hình đầu tư là: đầu tư trực tiếp trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đề tài xác định tác động của đầu tư trên đến nền kinh tế và các yếu tố thu hút đầu tư. Bằng phương pháp tổng hợp các nghiên cứu trước, đề tài đã xác định được các yếu tố khả dĩ nhất tác động đến thu hút đầu tư tại địa phương. Căn cứ trên phương pháp luận xây dựng chỉ số PCI của VCCI, đề tài nêu tóm tắt các thành phần cấu thành chỉ số PCI, ý nghĩa của từng thành phần.
Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư được so sánh tương quan với các thành phần này. Đây chính là sự liên kết bên trong của chỉ số PCI đến sự thu hút đầu tư. Từ những phân tích như trên, đề tài đã xây dựng khung phân tích sự tác động của chỉ số PCI đến sự thu hút đầu tư. Trong khung phân tích này, ngoài chỉ số PCI còn các yếu tố khác cũng tác động như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cảng biển, sân bay, thị trường tiêu thụ và các yếu tố khác cũng có tác động đến sự thu hút đầu tư.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ: 1. Định nghĩa đầu tư Đầu tư là một khái niệm kinh tế vĩ mô nhằm chỉ những giá trị mới được bổ sung vào nền kinh tế. Theo Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế". Hay nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định lớn hơn trong tương lai.
Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Theo luật đầu tư năm 2006 thì: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Phân loại đầu tư 1. Đầu tư trực tiếp a.
Định nghĩa: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh sau này bao gồm các hình thức: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. - Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng Hợp Tác Kinh Doanh (BCC), hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – vận hành (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT). - Đầu tư phát triển kinh doanh.
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. - Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Như vậy, đầu tư trực tiếp được chia thành 2 nhóm: - Đầu tư trực tiếp trong nước: việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp - Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau: + Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; + Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; + Thông qua các định chế tài chính trung gian khác. - Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đề tài nghiên cứu này được giới hạn đối với các hình thức đầu tư trực tiếp.
Tức là nghiên cứu ảnh hưởng của Chỉ số năng lực cạnh canh cấp tỉnh đến số lượng các doanh nghiệp tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các tỉnh thành. Các lý thuyết kinh tế về đầu tư 1. Mô hình số nhân đầu tư - Mô hình số nhân đầu tư xuất phát từ tư tưởng của Keynes. Ông cho rằng đầu tư tăng sẽ bù đắp cho những thiếu hụt về cầu tiêu dùng.
Để đảm bảo cho đầu tư gia tăng liên tục ông đưa ra nguyên lý số nhân. - Mô hình số nhân đầu tư phản ánh quan hệ giữa gia tăng thu nhập với gia tăng đầu tư, theo Keynes mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng nhu cầu bổ sung công nhân, nâng cao cầu về tư liệu sản xuất, do vậy làm tăng cầu về tiêu dùng, tăng giá hàng, làm tăng việc làm cho công nhân. Tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng lên, đến lượt mình thu nhâp lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới, tăng đầu tư mới lại làm tăng thu nhập mới. Cứ như vậy, đầu tư quyết định thu nhâp, thu nhâp lại tạo tiền đề để gia tăng đầu tư.
Lý thuyết gia tốc đầu tư - Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng. Như vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes, đầu tư cũng được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là mỗi sự thay đổi của sản lượng làm thay đổi đầu tư như thế nào. Các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư để đưa mức tư bản đạt mức mong muốn.
Lượng tư bản mong muốn phụ thuộc vào mức sản lượng, khi mức sản lượng cao hơn, các hãng có nhu cầu lớn hơn về tư bản vì tư bản là một trong nhiều nhân tố để tạo ra sản lượng. Tư tưởng trung tâm của mô hình gia tốc dựa trên mối quan hệ này. Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư - Theo lý thuyết này, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế: I ~ f (lợi nhuận thực tế). Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn.
Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn hơn và mức đầu tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tình trạng phá sản. Do đó, việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưu đãi.
Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn. Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi 15 hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn hơn các chi phí đã bỏ ra. - Chính vì vậy theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và các sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn. - Sự khác nhau giữa lý thuyết gia tốc đầu tư và lý thuyết này dẫn đến việc thực thi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư.
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư chính sách tài khoá mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sản lượng thu được cũng sẽ cao hơn. Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghệp không có tác dụng kích thích đầu tư. Ngược lại theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận cũng có nghĩa là tăng quỹ nội bộ. Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách tài khoá mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lý thuyết này.
Mô hình Harrod – Domar - Mô hình Harrod- Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư. - Theo mô hình Harrod - Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để đầu tư trong GDP là s với hệ số ICOR không đổi. Mô hình thể hiện tiết kiệm (S) là nguồn gốc của đầu tư (I), đầu tư làm tăng vốn sản xuất (∆K), gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếp làm tăng ∆Y.
Cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các nước tiên tiến, nhằm xem xét vấn đề: để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 1% thì đầu tư phải tăng bao nhiêu, nên những kết luận của mô hình cần được kiểm nghiệm kĩ khi nghiên cứu đối với các nước đang phát triển như nước ta. Ở những nước đang phát triển, vấn đề không đơn thuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như cũ mà quan trọng là phải tăng tốc với tốc độ cao hơn. Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họ thường sử dụng nhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng. Đầu tư trực tiếp 1.
Đầu tư trực tiếp trong nước a. Nguồn vốn cho đầu tư trực tiếp trong nước 16 - Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động đầu tư trong nước. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất và xã hội, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.