Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng thương mại Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM trên phạm vi quốc tế và Việt Nam, qua đó, nhận diện các khoảng trống nghiên cứu là trọng tâm nghiên cứu của đề tài luận án. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương này xây dựng giả thuyết nghiên cứu, mô tả dữ liệu nghiên cứu, xác định mô hình phân tích hồi quy, các phương pháp ước lượng các biến của mô hình nghiên cứu, để kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM. Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày các phân tích về thực trạng cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời và rủi ro của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007-2019, các kiểm định giả thuyết về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, chương này cũng nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ tương tác với nhân tố cơ chế quản trị công ty đến khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM Việt Nam Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị Chương này tập trung thảo luận hai vấn đề: đối chiếu kết quả nghiên cứu với những nghiên cứu trước đó; lý giải kết quả nghiên cứu trong bối cảnh đặc thù của hệ thống NHTM Việt Nam và đề xuất các khuyến nghị cơ bản thông qua phân tích các hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu.
10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM 1. Cấu trúc sở hữu Cho đến nay, khái niệm cấu trúc sở hữu có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tùy theo cách tiếp cận, các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa thích hợp với mục tiêu nghiên cứu của mình.
Một cách tổng quát, cấu trúc sở hữu có thể được hiểu là tỷ lệ vốn chủ sở hữu nắm giữ bởi các nhóm cổ đông được phân loại theo một tiêu chí nhất định trong một công ty. Theo đó, cấu trúc sở sở hữu được tiếp cận theo nhiều tiêu chí, đặc trưng khác nhau. Berle và Means (1932) được coi là người đã đưa ra lý thuyết nền tảng quan trọng về vấn đề cấu trúc sở hữu, khi cho rằng cấu trúc sở hữu phân tán tỷ lệ nghịch với kết quả kinh doanh của công ty, bởi vì sự khác biệt trong mục tiêu của nhà quản trị so với mục tiêu của cổ đông. Theo hướng đó, lý thuyết về cấu trúc sở hữu được phát triển bởi Gursory và Aydogan (2002) cho rằng cấu trúc sở hữu được xác định theo hai khía cạnh: mức độ tập trung sở hữu và đặc trưng của các cổ đông chính.
Xét theo mức độ tập trung, có 2 loại cấu trúc sở hữu là cấu trúc sở hữu tập trung và cấu trúc sở hữu phân tán. Trong cấu trúc sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty tập trung trong tay một số cá nhân, gia đình, ban điều hành, hay các tổ chức. Những cá nhân và nhóm này thường nắm quyền kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức vận hành công ty. Vì thế, cấu trúc sở hữu tập trung thường được xem là hệ thống sở hữu nội bộ.
Những cổ đông lớn thường kiểm soát công ty trực tiếp bằng cách tham gia vào hội đồng quản trị và ban điều hành. Cổ đông lớn có thể không sở hữu toàn bộ vốn nhưng có quyền biểu quyết đáng kể, nên vẫn có thể kiểm soát được mọi hoạt động của công ty. Ngược lại, cấu trúc sở hữu phân tán thường có số lượng cổ đông nhiều, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần của 11 công ty, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban điều hành nắm giữ. Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm soát chặt chẽ hoạt động của công ty.
Do đó, họ được gọi là chủ thể bên ngoài và cấu trúc sở hữu phân tán được gọi là hệ thống sở hữu bên ngoài. Theo cách tiếp cận này cổ đông lớn (Block) được định nghĩa là những cổ đông nắm giữ từ 5% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của công ty. Cổ đông nhỏ là cổ đông nắm giữ ít hơn 5% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của công ty. Xét theo đặc trưng của các cổ đông chính, cấu trúc sở hữu được tiếp cận theo các tiêu chí khác nhau: Theo phạm vi địa lý, cấu trúc sở hữu bao gồm sở hữu nước ngoài và sở hữu trong nước.
Sở hữu nước ngoài là khái niệm để chỉ những nhà đầu tư nước ngoài bao gồm những tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài thực hiện đầu tư, kinh doanh tại nước khác. Theo thành phần kinh tế của các chủ sở hữu, cấu trúc sở hữu bao gồm các thành phần sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân. Sở hữu nhà nước là hình thức sở hữu mà nhà nước là người đại diện cho nhân dân quản lý về vốn và tài sản. Sở hữu nhà nước sẽ chịu sự chỉ đạo của nhà nước, ngoài chức năng kinh doanh còn chịu trách nhiệm hỗ trợ nhà nước trong việc thực thi các chính sách và điều tiết thị trường.
Đối với sở hữu tư nhân thì các nhà đầu tư sẽ chịu toàn bộ lời lỗ hoặc phá sản trong quá trình đầu tư. Theo hình thức sở hữu, cấu trúc sở hữu bao gồm sở hữu tổ chức và sở hữu cá nhân. Nhà đầu tư tổ chức thường là các định chế tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư, công ty tài chính, công ty bảo hiểm…đầu tư với lượng vốn lớn và có chiến lược đầu tư lâu dài. Trong khi đó các nhà đầu tư cá nhân thì quy mô vốn nhỏ hơn, thường đầu tư ngắn hạn.
Cấu trúc sở hữu đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty vì nó ảnh hưởng đến động cơ của các nhà quản trị và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty cũng như mức độ rủi ro của công ty. Khả năng sinh lời của NHTM 1. Khái niệm Về bản chất, khả năng sinh lời của một doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết 12 quả đó. Trong thực tế, kết quả cuối cùng nói ở đây chính là lợi nhuận ròng sau thuế, chi phí bỏ ra bao gồm chi phí nguồn lực (tổng tài sản, tổng vốn chủ sở hữu, tổng số lao động,…) hoặc chi phí thường xuyên (tiền lương, các khoản trích nộp bảo hiểm…).
Khả năng sinh lời cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định. Đây là một trong các chỉ số chính để đánh giá tình hình hoạt động của ngân hàng một cách tổng quát nhất. Một số chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu đã tổng hợp các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đối với NHTM, các chỉ tiêu thường được sử dụng là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNM), tỷ lệ thu nhập hoạt động ròng cận biên (NOM), lợi nhuận ròng cận biên trước những giao dịch đặc biệt (NRST)…(Bonin, Hasan, và Wachtel, 2005; Yeyati và Micco, 2007; X.
Lin và Zhang, 2009). a, Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ROA thể hiện tương quan giữa mức sinh lời của công ty so với tài sản. Nó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản, cũng là thể hiện khả năng của nhà quản trị trong việc sử dụng các nguồn vốn để đầu tư sinh lời. Thông qua ROA, nhà đầu tư sẽ thấy được công ty kiếm được bao nhiêu tiền lãi trên 1 đồng tài sản.
ROA càng cao thì khả năng sử dụng tài sản càng có hiệu quả. ROA được sử dụng rộng rãi để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng khi xem xét lợi nhuận được tạo ra từ tài sản. Đối với mỗi ngân hàng, ROA phụ thuộc năng lực quản trị điều hành của ngân hàng và các nhân tố môi trường (Cornett và công sự, 2010). b, Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) Một chỉ tiêu khác cũng thường được sử dụng để đại diện cho khả năng sinh lời là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE_ Return on Equity).
Đây là chỉ tiêu mọi nhà đầu tư đều quan tâm vì ROE cho biết một đồng vốn của nhà đầu tư bỏ ra kinh doanh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Mặc dù không được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm như ROA, ROE cũng là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng sinh lời của NHTM. Tỷ 13 lệ ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng đồng vốn của cổ đông càng hiệu quả. c, Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM): NIM là một trong các thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại.
Chỉ tiêu này thể hiện năng lực sinh lời của hoạt động tín dụng và đầu tư. Đây là hai hoạt động chủ chốt của ngân hàng, mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. d, Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi ròng cận biên (NNM) NNM phản ảnh khả năng sinh lời của các hoạt động phi tín dụng, cũng là hoạt động phi truyền thống của NHTM, bao gồm các hoạt động dịch vụ dựa trên cơ sở thu phí thay vì thu từ lãi suất tín dụng hoặc lãi suất từ các khoản đầu tư vào giấy tờ có giá hoặc các khoản đầu tư khác; tiền lãi từ các hoạt động kinh doanh (trading/dealing) mua bán các tài sản tài chính, ngoại tệ. Thông thường, do chính sách định giá trước đây của ngân hàng là miễn phí cho các hoạt động dịch vụ phi lãi suất và dựa chủ yếu vào thu nhập từ hoạt động tín dụng nên tỷ lệ này thường âm (Timothy W.
Tuy nhiên, hiện nay vì tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM) giảm nên các ngân hàng đang có xu hướng tăng các thu nhập ngoài lãi suất và dẫn đến tỷ lệ này ngày càng tăng.