Tổng quan luận án

Nghiên cứu về vai trò của các định chế tài chính chỉ ra rằng hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin và chi phí giao dịch, hỗ trợ phân bổ nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Rajan & Zingales, 1998; Demirguc-Kunt và cộng sự, 2008; Diamond, 1984). Khi hệ thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, rủi ro hệ thống gia tăng và có thể dẫn tới các cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng như giai đoạn 2007 - 2008. Tại Việt Nam, tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,6% trong giai đoạn 2005 - 2017 (so với mức 2,8% của toàn cầu), với quy mô tín dụng nội địa do hệ thống ngân hàng cung ứng đạt 141,9% GDP vào cuối năm 2016 (trong đó tín dụng khu vực tư nhân chiếm 123,8% và khu vực công chiếm 18,1%). Tuy nhiên, cấu trúc thị trường ghi nhận sự sụt giảm mức độ tập trung: tỷ trọng tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất (CR5) giảm từ 79,7% năm 2005 xuống 51,0% năm 2016 (giảm 28,7%), mức độ tập trung toàn ngành giảm khoảng 1,8 lần (tương đương 32,6%). Đi cùng xu hướng gia tăng cạnh tranh, khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại (NHTM) suy giảm mạnh: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROA) giảm từ 1,5% năm 2007 xuống 0,7% năm 2016; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) giảm từ 21,5% xuống 8,5%. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải làm rõ bản chất tác động của cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của hệ thống NHTM Việt Nam.

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích tác động của mức độ cạnh tranh trên thị trường đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2017, kiểm tra xem mối quan hệ này là tuyến tính hay phi tuyến tính, đồng thời đánh giá sự khác biệt của tác động theo loại hình sở hữu, tình trạng mua bán và sáp nhập (M&A), tình trạng ổn định tài chính và tiến trình tái cấu trúc hệ thống. Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Giữa cạnh tranh và HQHĐ của các NH có mối quan hệ phi tuyến tính hay không?
  2. Tác động của cạnh tranh đến HQHĐ của các NH có sự khác biệt theo loại hình sở hữu NH hay không?
  3. Tác động của cạnh tranh đến HQHĐ của các NH được M&A có sự khác biệt so với các NH không được M&A hay không?
  4. Tác động của cạnh tranh đến HQHĐ của các NH có sự khác biệt khi khủng hoảng tài chính xảy ra hay không?
  5. Tác động của cạnh tranh đến HQHĐ của các NH có sự khác biệt trước và trong giai đoạn tái cơ cấu hay không?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của cạnh tranh đến HQHĐ và các yếu tố chi phối sự tác động của cạnh tranh đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian gồm 34 NHTM Việt Nam (bao gồm 27 NHTM cổ phần, 5 NHTM Nhà nước và 2 ngân hàng liên doanh). Phạm vi thời gian kéo dài 13 năm, từ năm 2005 đến năm 2017, gắn liền với các sự kiện như chuyển đổi mô hình ngân hàng nông thôn thành ngân hàng đô thị (2004 - 2007), gia nhập WTO (2007), khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008), quy định tăng vốn pháp định lên 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP và Nghị định 10/2011/NĐ-CP, việc thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) năm 2013 và các đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng theo Quyết định 254/QĐ-TTg và Quyết định 1058/QĐ-TTg.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu thực nghiệm theo hai nhóm chính: nghiên cứu về các nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động ngân hàng và nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.

Đối với hướng nghiên cứu về các nhân tố quyết định hiệu quả ngân hàng:

  • Nghiên cứu quốc tế đa quốc gia và đơn quốc gia sử dụng các phương pháp hồi quy gộp (POLS), mô hình tác động cố định (FEM), tác động ngẫu nhiên (REM), hồi quy biến công cụ và phương pháp GMM. Điển hình, Staikouras & Wood (2004) tại khu vực châu Âu (1994-1998) kết luận mức độ tập trung thị trường có tương quan thuận với lợi nhuận. Goddard và cộng sự (2004) tại châu Âu (1992-1998) ghi nhận tỷ lệ vốn chủ sở hữu tác động tiêu cực, trong khi tập trung thị trường tác động tích cực đến sinh lời. Ngược lại, Francis (2013) tại vùng hạ Sahara (1999-2006) chỉ ra vốn chủ sở hữu tác động tích cực tới lợi nhuận. Perera và cộng sự (2013) tại 4 nước Nam Á (1992-2007) nhận định cạnh tranh tương quan nghịch với lợi nhuận ngân hàng. Các nghiên cứu dùng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) như Brockett và cộng sự (1997) tại Mỹ, Percin & Ayan (2006) tại Thổ Nhĩ Kỳ, Lu và cộng sự (2007) tại Đài Loan, Tahir và cộng sự (2009) tại Malaysia, Kamau (2011) tại Kenya, Singh & Gupta (2013) tại Ấn Độ đã đo lường hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô nhưng phần lớn chưa kiểm soát đồng thời các yếu tố vĩ mô.
  • Tại Việt Nam, Nguyen (2007) áp dụng DEA giai đoạn 2001-2003 nhận thấy sự phi hiệu quả kỹ thuật nghiêm trọng hơn phân bổ chi phí. Nguyễn Việt Hùng (2008) kết hợp DEA và SFA giai đoạn 2001-2005 chỉ ra khối NHTM cổ phần hiệu quả hơn khối NHTM Nhà nước. Liễu Thu Trúc & Võ Thành Danh (2012) xác định lãng phí khoảng 7,7% đầu vào do phi hiệu quả công nghệ. Batten & Vo (2013) áp dụng FEM, REM và GMM giai đoạn 2006-2012 ghi nhận tỷ lệ sở hữu của nhà quản trị tác động tiêu cực đến hiệu quả. Doan (2016), Le và cộng sự (2017), Nguyen (2017) phân tích các yếu tố CAMELS, nợ xấu và vĩ mô tác động tới ROA, ROE.

Đối với hướng nghiên cứu tác động của cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động:

Tác giả và năm công bố Phạm vi nghiên cứu Phương pháp Kết quả thực nghiệm chính
Maudos & Fernandez de Guevara (2007) 15 nước EU (1993-2002) FEM Sức mạnh thị trường tác động tích cực đến hiệu quả chi phí X; bác bỏ giả thuyết "Quiet Life".
Schaeck & Cihák (2008) Châu Âu và Mỹ (1995-2005) GMM Cạnh tranh làm ngân hàng hiệu quả hơn và ổn định hơn.
Ariss (2010) 821 ngân hàng tại 60 nước (1999-2005) Tobit Tăng sức mạnh thị trường giúp nâng cao ổn định và hiệu quả lợi nhuận dù giảm hiệu quả chi phí.
Brissimis và cộng sự (2010) 10 nước mới gia nhập EU (1994-2005) 2SLS Cải cách ngành và cạnh tranh tác động tích cực đến hiệu quả ngân hàng.
Pruteanu-Podpiera và cộng sự (2008) Cộng hòa Séc (1994-2005) Granger causality Cạnh tranh tác động tiêu cực đến hiệu quả ngân hàng; bác bỏ giả thuyết "Quiet Life".
Phan Thị Thơm & Thân Thị Thu Thủy (2016) 31 NHTM Việt Nam (2005-2014) POLS, FEM, GMM Cạnh tranh tác động tiêu cực lên cả hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả chi phí.
Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016a, 2016b) 37 NHTM Việt Nam (2006-2014) FEM, GMM Tăng cường cạnh tranh có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận và giúp ngân hàng ổn định hơn.
Nguyễn Thị Hồng Vinh (2016) 30 NHTM Việt Nam (2008-2014) GMM Mức độ tập trung và tỷ trọng vốn chủ sở hữu càng cao càng giúp cải thiện khả năng sinh lời.

Từ việc rà soát tài liệu, luận án xác định sáu khoảng trống nghiên cứu cơ bản:

  1. Kết quả thực nghiệm quốc tế và trong nước còn mâu thuẫn; chưa có công trình nào tại Việt Nam kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.
  2. Thước đo hiệu quả và cạnh tranh còn đơn lẻ; chưa có nghiên cứu kết hợp cả thước đo hiệu quả biên (DEA, SFA) với chỉ số hiệu quả tổng hợp (OPI) xây dựng từ sáu hợp phần CAMELS thông qua phân tích thành phần chính (PCA), đồng thời kết hợp chỉ số Lerner và Lerner hiệu chỉnh.
  3. Chưa xem xét sự phân hóa tác động của cạnh tranh theo cơ cấu sở hữu đặc thù tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm 4 ngân hàng thương mại Nhà nước chi phối thị phần.
  4. Chưa so sánh tác động cạnh tranh qua hai giai đoạn: chạy đua tăng vốn điều lệ (2005-2011) và thực hiện tái cấu trúc hệ thống (2012-2017).
  5. Chưa đánh giá vai trò điều chỉnh của hoạt động M&A đối với mối quan hệ cạnh tranh - hiệu quả.
  6. Chưa làm rõ sự thay đổi của mối quan hệ cạnh tranh - hiệu quả trong bối cảnh cú sốc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tổng hợp các lý thuyết giải thích tác động của cạnh tranh đến hiệu quả ngân hàng thành hai nhóm quan điểm đối nghịch:

  • Nhóm quan điểm cho rằng giảm cạnh tranh (hoặc tăng tập trung thị trường/sức mạnh thị trường) giúp nâng cao hiệu quả: gồm Giả thuyết Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (Structure - Conduct - Performance: SCP), Giả thuyết Sức mạnh thị trường tương đối (Relative Market Power: RMP), Giả thuyết Hiệu quả - Cấu trúc (Efficiency - Structure: ES), Giả thuyết Thị trường cạnh tranh tiềm tàng (Contestable Markets: CM) và Giả thuyết Đặc thù ngành ngân hàng (Banking Specificities: BS). Theo các giả thuyết này, sức mạnh thị trường giúp ngân hàng định giá biên cao hơn, tích lũy nguồn lực để bù đắp chi phí xử lý thông tin và giảm thiểu rủi ro phá sản.
  • Nhóm quan điểm cho rằng gia tăng cạnh tranh thúc đẩy hiệu quả hoạt động: gồm Lý thuyết kinh tế Tân cổ điển và Giả thuyết "Cuộc sống bình lặng" (Quiet Life: QL). Khi thị trường thiếu áp lực cạnh tranh, nhà quản trị ngân hàng có xu hướng lơ là việc tối ưu hóa chi phí, dẫn đến tổn thất hiệu quả chi phí X. Cạnh tranh gia tăng buộc các ngân hàng phải kiểm soát chi phí chặt chẽ và ứng dụng công nghệ để tồn tại.

Về phương pháp đo lường cạnh tranh, luận án sử dụng phương pháp cấu trúc ngành thực nghiệm mới (NEIO) với hai chỉ số phi cấu trúc:

  • Chỉ số Lerner truyền thống: đo lường mức độ chênh lệch giữa giá đầu ra và chi phí cận biên trên giá đầu ra.
  • Chỉ số Lerner hiệu chỉnh (Adj_Lerner): được hiệu chỉnh theo phương pháp của Ariss (2010) để phản ánh điều kiện các ngân hàng không tối đa hóa lợi nhuận tuyệt đối.

Về phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động, luận án kết hợp:

  • Phương pháp hiệu quả từng phần qua các tỷ số tài chính (ROA, ROE, NIM).
  • Phương pháp hiệu quả biên: sử dụng cả kỹ thuật phi tham số DEA (tiếp cận đầu vào, đầu ra; quy mô hiệu quả không đổi CRS và quy mô hiệu quả thay đổi VRS) và kỹ thuật tham số SFA để ước lượng hiệu quả chi phí (DEA_CE, SFA_CE).
  • Chỉ số hiệu quả tổng hợp OPI (Overall Performance Index): kết hợp các biến đại diện cho 6 thành phần của hệ thống CAMELS thông qua phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) dựa theo khung tiếp cận của Jayakumar và cộng sự (2018).

Về kỹ thuật kinh tế lượng, luận án thiết lập mô hình hồi quy đa biến cho dữ liệu bảng động và áp dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước (two-step System GMM). Phương pháp này giúp kiểm soát hiện tượng nội sinh tiềm ẩn của các biến giải thích, hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Luận án đưa các biến tương tác giữa cạnh tranh với biến giả sở hữu Nhà nước, biến giả M&A, biến giả khủng hoảng và biến giả tái cơ cấu vào mô hình để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Dữ liệu thứ cấp cấp ngân hàng được trích xuất từ báo cáo tài chính thường niên của 34 NHTM Việt Nam thông qua cơ sở dữ liệu Orbis Bank Focus. Dữ liệu kinh tế vĩ mô và ngành được thu thập từ Databank của Ngân hàng Thế giới, Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, Tổng cục Thống kê, Tạp chí The Wall Street Journal và Quỹ Di sản (The Heritage Foundation).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa quá trình phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam từ mô hình ngân hàng một cấp trước năm 1988 sang mô hình hai cấp giai đoạn 1988 - 1990, các mốc phát triển thị trường sau Luật Cạnh tranh năm 2004, làn sóng chuyển đổi ngân hàng nông thôn giai đoạn 2004 - 2007 và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ năm 2008 sau cam kết WTO. Tác giả chỉ ra cơ cấu hệ thống có sự chuyển dịch: số lượng ngân hàng nội giảm từ 42 (năm 2003) xuống 35 (năm 2018), trong khi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng lên 52 và có 9 ngân hàng 100% vốn ngoại. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tăng tại các ngân hàng lớn (Vietinbank kịch trần 30%, Vietcombank đạt khoảng 21% năm 2018, ACB lấp đầy 30% giai đoạn 2012-2014). Tác giả cung cấp số liệu thực trạng: thị trường vẫn tập trung vào 4 ngân hàng quốc doanh (chiếm 49,1% huy động vốn và 52,9% cho vay năm 2016), song tỷ lệ CR5 toàn ngành giảm từ 79,7% năm 2005 xuống 51,0% năm 2016. Khả năng sinh lời suy giảm mạnh với ROA năm 2016 chỉ đạt 0,7% (so với 1,5% năm 2007) và ROE đạt 8,5% (so với 21,5% năm 2007). Khi so sánh khu vực năm 2016, ROA của Việt Nam thấp hơn đáng kể so với Campuchia, Nepal, Indonesia hay Thái Lan. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước, chương này xác định rõ 6 khoảng trống nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày các khái niệm nền tảng về hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu vào, hiệu quả kỹ thuật theo cách tiếp cận đầu ra và hiệu quả chi phí, gắn với đường biên hiệu quả CRS và VRS. Tác giả phân tích chi tiết cơ chế tác động của cạnh tranh đến hiệu quả hoạt động theo 7 giả thuyết kinh tế: Lý thuyết tân cổ điển, Giả thuyết SCP, Giả thuyết RMP, Giả thuyết ES, Giả thuyết CM, Giả thuyết QL và Giả thuyết BS. Tác giả xây dựng bảng kỳ vọng lý thuyết của các giả thuyết này đối với mối quan hệ cạnh tranh - hiệu quả. Bên cạnh biến cạnh tranh, chương này phân tích các yếu tố kiểm soát khác tác động đến hiệu quả ngân hàng gồm các yếu tố nội tại (quy mô tài sản, mức độ an toàn vốn qua tỷ lệ CAR hoặc vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, thanh khoản, cơ cấu chi phí, đa dạng hóa thu nhập) và các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, mức độ tự do hóa kinh tế). Từ đó, tác giả thiết lập khung lý thuyết nghiên cứu cho phép kiểm định mối quan hệ tuyến tính lẫn phi tuyến tính (thông qua biến bậc hai của cạnh tranh) và các hiệu ứng điều chỉnh.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết việc mô hình hóa các thước đo. Về cạnh tranh, tác giả phân tích sự phát triển từ mô hình Tổ chức ngành truyền thống (IO) sang Cấu trúc ngành thực nghiệm mới (NEIO), thiết lập phương trình ước lượng chi phí biên để tính chỉ số Lerner và chỉ số Lerner hiệu chỉnh (Adj_Lerner). Về hiệu quả, chương này trình bày phương pháp đo lường hiệu quả từng phần theo hệ thống CAMELS, phương pháp hiệu quả biên (DEA phi tham số và SFA tham số để ước lượng chi phí biên và điểm hiệu quả chi phí DEA_CE, SFA_CE), và quy trình tính chỉ số OPI dựa trên phân tích thành phần chính (PCA) từ 6 nhóm chỉ tiêu CAMELS. Mô hình kinh tế lượng tổng quát được xác định dưới dạng hồi quy dữ liệu bảng động:

$$\text{Eff}{it} = \alpha + \beta_1 \text{Eff}{it-1} + \beta_2 \text{Comp}{it} + \beta_3 \text{Comp}{it}^2 + \sum \gamma_k X_{it}^k + \sum \delta_m Z_t^m + \varepsilon_{it}$$

Trong đó $\text{Eff}{it}$ là thước đo hiệu quả (DEA_CE, SFA_CE, OPI), $\text{Comp}{it}$ là chỉ số Lerner hoặc Adj_Lerner, $X_{it}$ là véc-tơ biến kiểm soát đặc thù ngân hàng, $Z_t$ là véc-tơ biến kiểm soát vĩ mô. Tác giả trình bày lý do lựa chọn phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước, quy trình kiểm định Arellano-Bond đối với hiện tượng tự tương quan sai số (AR(1), AR(2)) và kiểm định Hansen/Sargan đối với tính hợp lệ của biến công cụ.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến của các biến trong mẫu 34 NHTM giai đoạn 2005 - 2017. Điểm hiệu quả chi phí trung bình ước lượng theo DEA (DEA_CE) và SFA (SFA_CE) cho thấy mức độ biến động rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng và qua các giai đoạn. Bảng ma trận hệ số tương quan và chỉ số VIF khẳng định mô hình không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tác giả trình bày kết quả ước lượng GMM hệ thống hai bước cho ba phương trình tương ứng với ba biến phụ thuộc: DEA_CE, SFA_CE và OPI. Kết quả hồi quy kiểm định sự tồn tại của hệ số biến cạnh tranh bậc một và biến cạnh tranh bậc hai, chỉ ra xu hướng tác động phi tuyến tính của chỉ số Lerner và Adj_Lerner đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tác giả lập bảng tóm tắt kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu, so sánh kết quả giữa mô hình không có biến tương tác và mô hình có biến tương tác để lượng hóa sự can thiệp của các biến điều chỉnh (sở hữu Nhà nước, M&A, khủng hoảng tài chính, tái cơ cấu).

Chương 5: Thảo luận và một số hàm ý chính sách

Chương 5 diễn giải chi tiết các phát hiện nghiên cứu từ Chương 4. Tác giả thảo luận về bản chất mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, làm rõ tại sao mối quan hệ này không đơn thuần là tuyến tính mà có sự chuyển đổi chiều hướng tùy thuộc vào cường độ cạnh tranh trên thị trường. Tiếp đó, chương này phân tích sự chi phối của các yếu tố phi cạnh tranh (vốn chủ sở hữu, quy mô, nợ xấu, thanh khoản, tăng trưởng kinh tế, lạm phát) và các yếu tố điều chỉnh tác động của cạnh tranh (loại hình sở hữu Nhà nước, trạng thái tham gia M&A, cú sốc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và tiến trình tái cấu trúc theo Đề án của Chính phủ). Dựa trên cơ sở thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống hàm ý chính sách phân định theo hai cấp độ: nhóm khuyến nghị cho Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm hoàn thiện khung pháp lý và điều tiết cạnh tranh; nhóm khuyến nghị cho ban điều hành các NHTM nhằm nâng cao năng lực nội tại. Cuối chương là phần chỉ ra các hạn chế của luận án và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận và phương pháp: Đây là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM. Nghiên cứu đóng góp phương pháp luận thông qua việc kết hợp đồng thời các thước đo hiệu quả biên (cả DEA phi tham số và SFA tham số) với chỉ số hiệu quả tổng hợp OPI dựa trên 6 hợp phần CAMELS bằng kỹ thuật PCA. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng cả chỉ số Lerner truyền thống và chỉ số Lerner hiệu chỉnh theo Ariss (2010), giúp kết quả ước lượng có độ tin cậy và vững chắc hơn so với các nghiên cứu trước đây chỉ dùng một thước đo đơn lẻ.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm chi tiết về sự phân hóa tác động của cạnh tranh theo loại hình sở hữu ngân hàng (khối ngân hàng gốc Nhà nước so với các ngân hàng còn lại), tình trạng tham gia M&A, sự điều chỉnh của cú sốc khủng hoảng tài chính năm 2008 và hai giai đoạn cải cách (chạy đua tăng vốn 2005 - 2011 so với tái cấu trúc xử lý nợ xấu 2012 - 2017).

Về giải pháp và kiến nghị đề xuất:

  • Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Cần xây dựng chính sách điều tiết cấu trúc ngành và mức độ cạnh tranh ở ngưỡng phù hợp, tránh để thị trường phân mảnh quá mức làm suy giảm khả năng sinh lời và an toàn hệ thống; tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý xử lý nợ xấu (như Nghị quyết 42/2017/QH14 và hoạt động của VAMC); tăng cường giám sát sở hữu chéo phát sinh từ các đợt tăng vốn điều lệ; đẩy mạnh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng theo Đề án của Thủ tướng Chính phủ gắn liền với kỷ luật thị trường.
  • Đối với các ngân hàng thương mại: Cần chủ động thích ứng với áp lực cạnh tranh bằng cách tối ưu hóa chi phí hoạt động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng; tăng quy mô vốn tự có một cách thực chất; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng truyền thống; cân nhắc chiến lược sáp nhập, hợp nhất (M&A) để khai thác tính kinh tế của quy mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Về phạm vi mẫu: Luận án chỉ khảo sát 34 NHTM Việt Nam trong nước (chiếm đại bộ phận thị phần nhưng chưa bao quát toàn bộ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng 100% vốn nước ngoài mới thành lập tại Việt Nam).
  • Về phạm vi thời gian: Chuỗi dữ liệu kết thúc vào năm 2017, do đó chưa phản ánh được đầy đủ kết quả dài hạn của giai đoạn triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng tập dữ liệu sang toàn bộ khối ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kéo dài chuỗi thời gian sang giai đoạn sau năm 2017 để đánh giá toàn diện kết quả tái cơ cấu nợ xấu, đồng thời xem xét bổ sung các chỉ số đo lường cạnh tranh khác như hệ số co giãn lợi nhuận (Boone indicator) hoặc thống kê Panzar-Rosse (H-statistic) vào mô hình hồi quy động.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Luận án cung cấp quy trình nghiên cứu định lượng chuẩn mực từ bước xử lý dữ liệu vi mô ngân hàng, kỹ thuật ước lượng chi phí biên SFA, quy trình phân tích bao dữ liệu DEA (CRS và VRS), phương pháp phân tích thành phần chính PCA để xây dựng chỉ số OPI từ CAMELS, đến kỹ thuật ước lượng hồi quy dữ liệu bảng động GMM hệ thống hai bước xử lý nội sinh.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú, tổng hợp đầy đủ các giả thuyết kinh tế vi mô ngân hàng (SCP, RMP, ES, CM, QL, BS) và bảng số liệu thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ: Cung cấp luận cứ thực nghiệm để đánh giá mối tương quan giữa cạnh tranh, hiệu quả và tái cơ cấu, hỗ trợ ban hành các chính sách kiểm soát cạnh tranh, cấp phép M&A và quy định an toàn vốn.
  • Đối với cấp quản lý tại các NHTM: Giúp nhận diện vị thế cạnh tranh thông qua chỉ số Lerner và cấu trúc chi phí biên, từ đó lựa chọn chiến lược kinh doanh và kiểm soát rủi ro phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ tập trung và cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam biến động như thế nào trong giai đoạn 2005 - 2016? Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới trong luận án cho thấy mức độ tập trung của ngành ngân hàng Việt Nam giảm khoảng 1,8 lần (giảm 32,6%) trong giai đoạn 2005 - 2016. Tỷ trọng tài sản của 5 ngân hàng lớn nhất (CR5) giảm từ 79,7% năm 2005 xuống 51,0% năm 2016 (giảm 28,7%). Đến cuối năm 2016, 4 ngân hàng quốc doanh (Agribank, BIDV, Vietinbank, Vietcombank) vẫn nắm giữ khoảng 49,1% thị phần huy động vốn và 52,9% thị phần cho vay, trong khi hơn 30 NHTM cổ phần chia sẻ phần còn lại. Sự suy giảm tỷ lệ tập trung phản ánh mức độ cạnh tranh trên thị trường ngân hàng Việt Nam đã gia tăng đáng kể.

2. Khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam thay đổi ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Đi cùng với xu hướng cạnh tranh gia tăng, khả năng sinh lời của ngành ngân hàng Việt Nam suy giảm rõ rệt. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROA) giảm hơn hai lần, từ 1,5% năm 2007 xuống còn 0,7% năm 2016. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) giảm 2,5 lần, từ 21,5% năm 2007 xuống còn 8,5% năm 2016. Khi so sánh với các quốc gia trong khu vực năm 2016, ROA của Việt Nam (0,7%) chỉ cao hơn Bangladesh, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mông Cổ, thấp hơn nhiều so với Campuchia, Nepal, Indonesia hay Thái Lan.

3. Luận án sử dụng những chỉ số nào để đo lường cạnh tranh và hiệu quả hoạt động? Để đo lường cạnh tranh, luận án sử dụng hai chỉ số phi cấu trúc: chỉ số Lerner truyền thống và chỉ số Lerner hiệu chỉnh (Adj_Lerner theo cách tính của Ariss, 2010). Để đo lường hiệu quả hoạt động, luận án kết hợp:

  • Phương pháp hiệu quả biên: điểm hiệu quả chi phí từ mô hình phi tham số DEA (DEA_CE) và mô hình tham số SFA (SFA_CE).
  • Phương pháp hiệu quả tổng hợp: chỉ số OPI (Overall Performance Index) được kết hợp từ 6 thành phần CAMELS thông qua phân tích thành phần chính (PCA) theo đề xuất của Jayakumar và cộng sự (2018).

4. Giai đoạn nghiên cứu 2005 - 2017 gắn với những mốc tái cơ cấu và sự kiện pháp lý trọng yếu nào? Luận án chỉ ra các sự kiện quan trọng: làn sóng chuyển đổi ngân hàng nông thôn thành ngân hàng đô thị (2004 - 2007); Việt Nam gia nhập WTO cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn ngoại (2007 - 2008); quy định tăng vốn pháp định lên 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP và Nghị định 10/2011/NĐ-CP; tỷ lệ nợ xấu lên tới 17,21% vào ngày 30/09/2012; triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định 254/QĐ-TTg; thành lập VAMC năm 2013 theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP; Ngân hàng Nhà nước mua bắt buộc ba NHTM cổ phần với giá 0 đồng năm 2015; và ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu cùng Đề án cơ cấu lại giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định 1058/QĐ-TTg.

5. Mẫu nghiên cứu của luận án có cơ cấu cụ thể như thế nào? Mẫu nghiên cứu bao gồm 34 NHTM hoạt động tại Việt Nam trong suốt khoảng thời gian 2005 - 2017. Trong đó, khối NHTM cổ phần chiếm đa số với 27 ngân hàng, khối NHTM Nhà nước gồm 5 ngân hàng (tính cả các NHTM cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ) và 2 ngân hàng liên doanh. Cơ cấu mẫu này phản ánh thực tế ngành và đại diện cho phần lớn thị phần tín dụng và tài sản của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Phong đã giải quyết một vấn đề cấp thiết và thời sự của hệ thống tài chính Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2017. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết cạnh tranh với phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước, phân tích bao dữ liệu (DEA), phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và chỉ số tổng hợp CAMELS (OPI), nghiên cứu đã làm sáng tỏ tính chất phi tuyến tính của mối quan hệ giữa cạnh tranh và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Công trình cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về sự điều chỉnh của yếu tố sở hữu Nhà nước, hoạt động M&A, tái cơ cấu hệ thống và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Các kết quả và đề xuất chính sách trong luận án là cơ sở tham chiếu khoa học cho cơ quan quản lý và các ngân hàng thương mại trong việc hoạch định chính sách cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.