phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án đợc chia thành 4 chơng, 9 tiết. 10 Chơng 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU Trong giai đoạn hiện nay, khi cách mạng công nghiệp lần thứ t bùng nỗ trên thế giới, khoa học, công nghệ đã thực sự trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, vấn đề giai cấp công nhân, cùng với vị trí vai trò của giai cấp công nhân ngày càng đợc quan tâm. Bên cạnh các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân, gần đây, cách mạng công nghiệp lần thứ t cũng đợc các nhà khoa học đặc biệt chú ý, có nhiều công trình nghiên cứu đợc công bố: 1. Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ t và giai cẤp công nhân 11.L Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ t + Công trình của các tác giả nớc ngoài - Tác giả Klaus Schwab (2018) với cuốn sách “Cách mạng công nghiệp lần thứ t” [130] đã khẳng định, cách mạng công nghiệp lần thứ t là cuộc cách mạng khác tất cả các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trong lịch sử, trên ba phơng diện: /ốc độ, bề rộng chiểu sâu.“Chúng ta đang ở điểm khởi đầu của một cuộc cách mạng sẽ thay đổi sâu sắc cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau.
Theo Klaus Schwab, co ba xu héng céng nghệ chính trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ t, đó là: vật chất với xe tự hành, in 3D, Robot tiên tiến và vật liệu mới; kỹ thuật số mà đặc trng là internet vạn vật; cuối cùng là công nghệ sinh học. Quan trọng hơn, tác giả cũng chỉ ra những tác động chính của cuộc cách mạng này theo một hệ thống chỉnh thê và toàn điện, vạch ra những thách thức mà con ngời sẽ phải đối điện trớc cách mạng công nghiệp lần thứ t. - Sau cuốn “Cách mạng công nghiệp lần thứ t ”, Klaus Schwab (2019) tiêp tục xuât bản cuôn sách với tên gọi “Định hình cuộc cách mạng công 11 nghiệp lần thứ £” [131] và một lần nữa khẳng định “sự phát triển của các công nghệ mới hoàn toàn nằm trong khả năng của chúng ta” [131; tr.7], tuy vậy, chúng ta phải nhanh chóng định hình cuộc cách mạng này bởi nó: “. góp phần tạo điều kiện để một lực lợng đông đảo gồm các nhà lãnh đạo và ngời dân cùng t duy sâu hơn về mối quan hệ giữa công nghệ và xã hội, hiểu đợc việc hành động (và không hàng động).
- Deloitte and Global Business Coalition for Education (2018) trong báo cáo đa ra khung chơng trình hành động và những giải pháp để chuẩn bị lực lợng lao động cho cách mạng công nghiệp lần thứ t (Preparing tomorrow’s workforce for the Fourth Industrial Revolution) [174] da chi r6: “Cách mạng 4.0 sẽ tạo ra những ứng dụng tuyệt vời có thể áp dụng vào hầu hết mọi mặt của cuộc sống thờng nhật, tác động đến cách con ngời tơng tác với công nghệ, và biến đổi cách thức và địa điểm làm việc” [174; tr. Tuy nhiên, tác động hay ảnh hởng của cách mạng công nghiệp lần thứ t đến từng đất nớc, khu vực trên thế giới là khác nhau, bởi điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa và khả năng tiếp cận cuộc cách mạng này. Báo cáo cũng nêu lên hiện trạng đang thay đổi của lực lợng lao động trẻ trên toàn cầu, hàng triệu thanh niên trên thế giới thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, nhng các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong vấn đề tuyển dụng bởi vì một mâu thuẫn đang diễn ra, mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhà tuyển dụng và kỹ năng của ngời lao động, mâu thuẫn này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ t. Do vậy, báo cáo chỉ rõ, cần trang bị cho lực lợng lao động trẻ trình độ chuyên môn cũng nh những kỹ năng cần thiết, đây phải là nỗ lực từ nhiều phía: từ doanh nghiệp, nhà nớc và bản thân ngời lao động.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên cơ bản đã cung cấp cái nhìn đa chiều và toàn điện về cách mạng công nghiệp lần thứ t, về những biểu hiện, 12 đặc trng cũng nh tác động của cuộc cách mạng này đến các nền kinh tế trên thế gidi, đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ đó đa ra những dự báo về xu hớng công nghệ tơng lai và những thay đổi trong công việc, trong sản xuất và sinh hoạt của con ngời. + Công trình của các tác giả trong nớc - Các tác giả trong cuốn Kỷ yếu hội thảo (2016) “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ t và những vấn đề đặt ra đổi với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” [5Š] cho rằng cách mạng công nghiệp lần thứ t là “,,.một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đối dữ liệu và chế tạo. CMCN lần thứ 4 là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc tới các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới” [5; tr.78] hay “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0), là một thuật ngữ với nội hàm bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đối dữ liệu và chế tạo cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, internet của vạn vật và Internet của các dịch vụ tơng tác với nhau và với con ngời theo thời gian thật” [5; tr. Nhiều bài viết đi vào đánh giá về cơ hội, thách thức, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ t đến lĩnh vực lao động, việc làm ở Việt Nam.
Các tác giả cho rằng thách thức lớn nhất đối với lao động việc làm ở Việt Nam hiện nay là cơ cấu lao động lạc hậu và trình độ lao động thấp, ngời lao động có nhiều nguy cơ bị mat việc làm dẫn đến phá vỡ cấu trúc thị trờng lao động. đây là chủ đề rất gần với lĩnh vực luận án đang nghiên cứu. - Tác giả Nguyễn Văn Bình trong cuốn sách (2017) “Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ f° [10] đự đoán cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ t sẽ tạo ra một bớc ngoặt mới cho phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam “.dựa trên nền tảng số hóa của cuộc CMCN 3.0 nhng mang một bản chất khác. Đó là việc máy móc đã bắt đầu thay thế, trợ giúp cho sức suy nghĩ, t duy hay năng lực trí tuệ của con ngời.
Điều này sẽ tạo ra những thay 13 đổi cha từng có và đợc cho là sẽ tạo ra một bớc ngoặt mới trong phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả cũng đề cập đến từng ngành nghề mũi nhọn trong nền kinh tế Việt Nam nh: ngành chế biến, chế tạo, ngành công nghiệp năng lợng, ngành ngân hàng, ngành du lịch, ngành giáo dục, ngành phát triển thơng mại kỹ thuật số. trớc cuộc cách mạng này. - Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ t đang đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017) đã tổ chức Hội thảo “Cách mạng công nghiệp lần thứ t thời cơ và thách thức đối với Việt Nam” [5Š].0) theo các tác giả là “.một nền công nghiệp của các nhà máy thông minh và của chuỗi giá trị toàn cầu trong sản xuất — dịch vụ - kinh doanh” [55; tr.28] “Về bản chất.
là cuộc cách mạng số hóa, thông qua các công nghệ nh Internet vạn vật (Iot), trí tuệ nhân tạo (AD, thực tế ảo (VR), tơng tác thực tại - ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích đữ liệu lớn (SMAC). để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Đặc biệt, các tác giả đã chỉ ra một số ngành nghề chịu ảnh hởng trực tiếp bởi cuộc cách mạng này sẽ biến mắt, điều đó đồng nghĩa với việc nhiều công nhân lao động thủ công mất đi việc làm, nhng theo đúng quy luật của xã hội loài ngời một số ngành nghề mới sẽ ra đời thay thế và làm mới nền kinh tế. Bên cạnh đó, các tác giả cũng cho rằng nếu nh “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai là hai cuộc cách mạng tạo lập nền tảng kinh tế, kỹ thuật của chủ nghĩa t bản” thì “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và thứ t là hai cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho hình thái kinh tế xã hội mới — chủ nghĩa cộng sản” [55, tr.
- Theo tác giả Trần Thị Vân Hoa trong cuốn (2017) “Cách mạng công nghiệp 4.0 van dé đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam” [S1] “cách mạng công nghiệp lần thứ t đã kết hợp hệ thống nhúng và quy trình sản xuất thông minh dé mở đờng cho một kỷ nguyên 14 công nghệ mới, kỷ nguyên thay đổi cơ bản chuỗi giá trị và mô hình kinh doanh trong sản xuất công nghiệp. Sản xuất thông minh đợc coi nh một chuẩn mực của quá trình hoạt động. Trong quá trình sản xuất, máy móc hoạt động dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông thông minh, các hệ thống và mạng lới có khả năng độc lập trao đôi và trả lời các thông tin để quản lý các quá trình sản xuất công nghiệp” [51; tr. Điểm nổi bật của cuốn sách là tập trung làm rõ thực trạng hiện tại của Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ t, chỉ ra thách thức lớn nhất mà chúng ta đang phải đối mặt đó là Việt Nam hiện nay thiếu nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lợng cao cho phát triển kinh tế.
- Khi nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ t, trong cuốn (2018) “Cách mạng công nghiệp lần thứ t cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết A? kiệm” [34] tác giả Phan Xuân Dũng đã di vào cắt nghĩa các khái niệm một cách 33c rõ ràng và khái quát: từ khái nệm “cách mạng khoa học”, “cách mạng khoa học và kỹ thuật”, “cách mạng khoa học và công nghệ”, “cách mạng công nghiệp”, cho đến khái niệm “cách mạng xã hội”. Trên cơ sở khái quát về các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử tác giả đã đa ra cái nhìn tổng quan nhất về cách mạng công nghiệp lần thứ t - sự xuất hiện, ảnh hởng và những đặc trng cơ bản.