Chương 1 TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN. ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VIỆT NAM 1.1 Trí thức khoa học xã hội và nhân văn Trí thức KHXH&NV bao gồm những trí thức hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV. Do vậy, để hiểu về lực lượng trí thức này, cần có quan niệm đúng về trí thức nói chung.1 Quan niệm về trí thức Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Intelligentia”, nghĩa là sự hiểu biết, sự thông thái, sự thông minh, trí tuệ… Đến nay, thuật ngữ đó được đề cập đến với những nội dung không hoàn toàn giống nhau, nên đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “trí thức”. Song, những định nghĩa này đều dựa vào một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mình tác động vào tự nhiên, nhằm khai thác và cải tạo tự nhiên theo những phương thức nhất định, phục vụ cho nhu cầu của mình.
Phương thức mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên trong các thời đại và ngay cả trong một thời đại cũng khác nhau. Họ có thể tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên thông qua lao động chân tay hoặc lao động trí óc. Nói tới trí thức là nói tới hoạt động lao động sáng tạo bằng trí óc. Lao động trí óc là một trong những cách thức mà một bộ phận trong xã hội sử dụng để tác động đến tự nhiên một cách gián tiếp.
Lao động trí óc xuất hiện là kết quả của sự phân công lao động trong xã hội và phát triển lực lượng sản xuất. Sự xuất hiện lao động trí óc dẫn đến sự ra đời một tầng lớp lao động đặc biệt trong xã hội - tầng lớp trí thức. Tuy nhiên, lao động trí óc là lĩnh vực 12 z tương đối rộng, bao gồm lao động trí óc giản đơn và lao động trí óc phức tạp. Lao động trí óc giản đơn và phức tạp phân biệt với nhau ở mức độ hao phí năng lượng thần kinh trung ương trong quá trình làm việc.
Lao động trí óc phức tạp cần sự hao phí năng lượng thần kinh trung ương cao hơn để thực hiện những hoạt động phức tạp của tư duy như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, khái quát hoá, trừu tượng hoá. về những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội thành lý luận, tri thức khoa học mới. Còn lao động trí óc giản đơn chỉ là những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần và dần dần thành thói quen, phản xạ. Lao động trí óc giản đơn gắn với lao động chân tay, là dạng cao hơn của lao động chân tay.
Lao động trí óc giản đơn thường không tạo ra tri thức khoa học mới mà chỉ tạo ra những tri thức kinh nghiệm thông thường. Vì vậy, không phải tất cả những người lao động trí óc đều là trí thức, mà chỉ những người lao động trí óc phức tạp mới có khả năng trở thành người trí thức. Lao động trí óc phức tạp là yếu tố để phân biệt trí thức với những giai cấp và tầng lớp lao động khác trong xã hội. Giữa lao động trí óc và lao động chân tay tuy có sự phân biệt với nhau nhưng không tách rời hoặc đối lập nhau mà có sự thống nhất.
Bởi vì, bất cứ hoạt động lao động nào cũng có sự tham gia của đầu và tay con người.Mác đã nói: Từng người riêng lẻ không thể tác động tới tự nhiên nếu không vận động các bắp thịt của mình dưới sự kiểm soát của bộ não của mình. Cũng như trong hệ thống tự nhiên, đầu và tay gắn với nhau, thì trong quá trình lao động, lao động trí óc và lao động chân tay cũng kết hợp lại với nhau [87, tr. Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới Tri thức khoa học liên quan chặt chẽ với tri thức kinh nghiệm, xuất phát từ tri thức kinh nghiệm, nhưng khác về chất so với với tri thức kinh nghiệm. 13 z Tri thức kinh nghiệm chỉ phản ánh bề ngoài hoặc từng mặt rời rạc của sự vật, hiện tượng, hình thành từ những hoạt động hàng ngày, lặp đi lặp lại, từ nhận thức cảm tính.
Còn tri thức khoa học phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, phản ánh những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, bắt nguồn từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm thông qua hoạt động lao động của tầng lớp trí thức - lao động trí óc phức tạp. Sản phẩm lao động của tầng lớp trí thức chính là tri thức khoa học. Sản phẩm này có đặc điểm: tồn tại ở dạng tinh thần, mới, có tính kế thừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã hội cao.
Vì vậy, lao động của trí thức là lao động mang tính sáng tạo rõ nét. Tri thức khoa học rất đa dạng, phong phú, có thể xem xét ở các lĩnh vực khác nhau: khoa học tự nhiên, KHXH&NV, khoa học công nghệ, khoa học liên ngành. Mỗi lĩnh vực đó lại có nhiều chuyên ngành khác nhau: Toán học, Văn học, Vật lý, Sinh - Hoá, Địa - Vật lý, Địa chính trị, Xã hội học lịch sử, Tâm lý xã hội học, v. Chúng ta cũng có thể xem xét tri thức khoa học thông qua các loại hình: nghiên cứu cơ bản, ứng dụng hay triển khai.
Tri thức khoa học được kết tinh ở nhiều dạng sản phẩm khác nhau: các học thuyết, lý thuyết khoa học, các đề án thiết kế, kế hoạch, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, giáo trình, bài giảng, bài báo, v. Các dạng sản phẩm, chuyên ngành khoa học trên đều phản ánh sâu một vấn đề của tự nhiên hoặc đời sống xã hội, nên nhiều khi, không thể nhận biết ngay một cách dễ dàng giá trị của các công trình khoa học. Có những công trình hàng nhiều năm sau mới được thừa nhận và ứng dụng vào sản xuất và đời sống… Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn cao Để thực hiện được hoạt động lao động trí óc phức tạp nhằm tạo ra những tri thức khoa học mới, trí thức phải là những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao. Tuy nhiên, tiêu chí trình độ học vấn để xác định trí thức 14 z mang tính lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, hoàn cảnh cụ thể, mặt bằng dân trí, nội dung giáo dục của từng quốc gia, dân tộc.
Hiện nay, ở nhiều nước nói chung và nước ta nói riêng, trong điều kiện của nền giáo dục hiện đại, tiêu chí để xác định trí thức là từ trình độ cao đẳng trở lên. Với trình độ kiến thức ban đầu như vậy, người trí thức mới có khả năng để thực hiện lao động sáng tạo thực sự. Song, tiêu chí về trình độ, văn bằng mới chỉ là một dấu hiệu để xác định trí thức, chứ chưa đủ để trở thành trí thức. Có những người có trình độ đại học, thậm chí trên đại học, nhưng lao động của họ không đảm nhiệm chức năng của người trí thức - sáng tạo tri thức khoa học, thì cũng chưa phải là trí thức.
Ngược lại, có những người không có bằng cấp, chủ yếu là tự học hỏi và từ thực tiễn lại có được lượng tri thức phong phú, có nhiều sáng tạo tri thức mới vẫn có thể coi là trí thức, thậm chí còn là nhà khoa học vĩ đại, như Robert Owen, Phriđrich.Ăngghen, Alfred Nobel, Albert Einstein. Ở xã hội Việt Nam, thời phong kiến, phụ nữ không được đến trường, nhưng lại có những nữ trí thức điển hình như: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… Thứ tư, trí thức tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Trí thức có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Trí thức góp phần phát kiến những học thuyết, đường hướng chính trị cho sự vận động của một giai cấp, một chính đảng, một quốc gia. Họ là lực lượng chủ chốt trong nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và đưa tiến bộ của khoa học vào sản xuất.
Đồng thời, họ còn thực hiện tư vấn, phản biện, giám định xã hội các đề án phát triển kinh tế - xã hội, tham gia hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đưa tiến bộ khoa học vào đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mặt khác, họ là lực lượng chủ yếu duy trì, phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng, phát triển con người. Trí thức còn có trách nhiệm lớn 15 z trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại, qua đó góp phần làm cho xã hội phát triển bền vững. Ngày nay, trí thức là một chủ thể của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đang dần trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế tri thức.
Từ những đặc trưng trên có thể quan niệm: Trí thức là một tầng lớp xã hội bao gồm những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng sáng tạo tri thức khoa học mới, đồng thời truyền bá, nhất là ứng dụng tri thức này vào thực tiễn, góp phần to lớn đến sự phát triển và trình độ văn minh của nhân loại.2 Đặc điểm của trí thức khoa học xã hội và nhân văn Trí thức KHXH&NV là một bộ phận của tầng lớp trí thức, bao gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo trong lĩnh vực KHXH&NV. Từ đối tượng nghiên cứu, đặc điểm của lĩnh vực khoa học này, nên trí thức KHXH&NV có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, trí thức KHXH&NV, ngoài trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu còn cần sự hiểu biết về các lĩnh vực khoa học gần kề, đồng thời phải có vốn sống và sự trải nghiệm thực tiễn nhất định Trí thức KHXH&NV cũng như trí thức nói chung, để thực hiện lao động sáng tạo, cần phải có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Mặt khác, do đặc điểm của những hiện tượng xã hội - tính hay thay đổi và bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các nhân tố tạo nên các hiện tượng xã hội rất đa dạng và có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa các lĩnh vực KHXH&NV, nên trí thức KHXH&NV không chỉ cần sự hiểu biết sâu sắc ở lĩnh vực của mình mà còn cần sự hiểu biết rộng rãi ở các lĩnh vực khoa học gần kề.