Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới", chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 5.02), do nghiên cứu sinh Ngô Thị Phượng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Thanh Khôi và PGS. Trịnh Trí Thức.
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) được xác định giữ trọng trách cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới, thẩm định, phản biện, dự báo xã hội, đồng thời là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng - chính trị nhằm bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đội ngũ trí thức KHXH&NV đã có nhiều đóng góp vào thực tiễn cách mạng, quá trình thực hiện vai trò này bộc lộ những mâu thuẫn, bất cập và hạn chế. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và xã hội về vị trí của đội ngũ trí thức KHXH&NV ở nhiều nơi chưa đầy đủ, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách đãi ngộ và sử dụng cán bộ.
Về mục tiêu nghiên cứu, luận án hướng tới việc luận giải những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, từ đó xác định các quan điểm chỉ đạo và hệ thống giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của lực lượng này.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm "trí thức KHXH&NV" và vai trò của họ đối với sự phát triển của xã hội.
- Phân tích những đặc điểm và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam.
- Xác định những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam dưới tác động của sự nghiệp đổi mới đất nước.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân cũng như xác định mâu thuẫn nảy sinh trong việc thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới vừa qua.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian giới hạn từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2005); phạm vi không gian bao quát đội ngũ trí thức KHXH&NV trên phạm vi cả nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề trong luận án được tác giả phân loại thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam nói chung.
Nhóm này tập trung khảo cứu trí thức như một nguồn nhân lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Tiêu biểu gồm:
- Luận án Phó tiến sĩ Triết học của Phan Viết Dũng (1988): "Vị trí, vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", bảo vệ tại Học viện Nguyễn Ái Quốc Trung ương, phân tích đặc điểm, vai trò của trí thức trong công tác lý luận và ba cuộc cách mạng (quan hệ sản xuất, khoa học - kỹ thuật, tư tưởng - văn hóa).
- Luận án Phó tiến sĩ Triết học của Trần Thước (1992): "Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức Việt Nam", bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, làm rõ bản chất thế giới quan và lịch sử chuyển biến tư tưởng của trí thức cách mạng.
- Luận án Phó tiến sĩ Triết học của Phan Thanh Khôi (1992): "Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay", bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đi sâu phân tích hệ thống động lực thúc đẩy sáng tạo (lý tưởng - tình cảm, trí tuệ - tinh thần, kinh tế - vật chất).
- Cuốn sách của Đỗ Mười (1995): "Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước" (Nxb Chính trị Quốc gia), tổng hợp các bài viết, bài phát biểu khẳng định trí thức là đại biểu cho đỉnh cao trí tuệ dân tộc.
- Các công trình do GS.TS Phạm Tất Dong chủ biên: "Trí thức Việt Nam - Thực tiễn và triển vọng" (Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, thuộc chương trình cấp nhà nước 1991-1995) và "Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Nxb Chính trị Quốc gia, thuộc chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KHXH.09 giai đoạn 1996-2000), phân tích thực trạng số lượng, cơ cấu, chất lượng, tâm tư và định hướng chính sách phát triển trí thức đến năm 2010.
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực KHXH&NV.
- Bài viết của GS.TS Nguyễn Duy Quý (1988): "Khắc phục sự chậm chễ của khoa học xã hội ở nước ta", trình bày tại Hội thảo khoa học "Đổi mới tư duy lý luận dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội VI của Đảng" tại Học viện Nguyễn Ái Quốc Trung ương.
- Sách 2 tập do GS.TS Phạm Tất Dong chủ biên (1997): "Khoa học xã hội và nhân văn, mười năm đổi mới và phát triển" (Nxb Khoa học xã hội).
- Công trình của PGS.TS Phạm Xuân Hằng chủ biên (2000): "Khoa học xã hội và nhân văn với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (Nxb Chính trị Quốc gia).
- Hai bộ sách do TS. Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên (2003, 2004): "Những thành tựu khoa học xã hội và nhân văn ở các tỉnh phía Nam trong thời kỳ đổi mới" và "Tuyển tập Tạp chí Khoa học xã hội" (Nxb Khoa học xã hội), tổng hợp các bài viết theo 6 cụm chuyên đề lớn.
- Các bài nghiên cứu chuyên ngành trên Tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học xã hội, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chí Khoa giáo, Tạp chí Hoạt động khoa học.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam.
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn An Ninh (1999): "Phát huy tiềm năng của trí thức Khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta", tiếp cận từ góc độ tiềm năng lao động khoa học, tính tích cực chính trị - xã hội và năng lực truyền bá tri thức.
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Đình Minh (2002): "Phát huy nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", khảo sát cơ cấu, số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức KHXH&NV trong lực lượng vũ trang.
- Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Văn Thanh (2001): "Xây dựng đội ngũ trí thức Khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay", khảo sát thực trạng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin tại các trường đại học.
Khoảng trống nghiên cứu:
Các công trình đi trước đã tiếp cận trí thức nói chung, đánh giá thành tựu của ngành KHXH&NV hoặc xem xét từng phân nhóm trí thức chuyên biệt (như tiềm năng trí thức khoa học xã hội, trí thức trong quân đội, trí thức Mác - Lênin). Tuy nhiên, tính đến năm 2005, chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, toàn diện và có hệ thống về vai trò của toàn bộ đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong tiến trình đổi mới, làm rõ mối quan hệ giữa thành tựu, hạn chế và các mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn thực hiện vai trò đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, phát triển khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo.
Về khái niệm học thuật, tác giả tiếp cận thuật ngữ "trí thức" từ gốc tiếng Latinh (Intelligentia – sự hiểu biết, thông thái, thông minh) và xác định 4 đặc trưng căn bản:
- Trí thức là người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo (tiêu tốn năng lượng thần kinh trung ương cao hơn so với lao động trí óc giản đơn để phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa).
- Sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới (phản ánh bản chất, quy luật, mang tính kế thừa nhưng không lặp lại, khác về chất so với tri thức kinh nghiệm).
- Trí thức là người có trình độ học vấn và chuyên môn cao (trong xã hội hiện đại lấy chuẩn từ cao đẳng trở lên, gắn liền với năng lực sáng tạo thực tế).
- Trí thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Từ đó, luận án định nghĩa: Trí thức KHXH&NV là một bộ phận của tầng lớp trí thức, có chức năng sáng tạo, truyền bá, ứng dụng tri thức KHXH&NV vào đời sống xã hội, là lực lượng chính trong việc sáng tạo ra những lý thuyết xã hội, các hệ tư tưởng chính trị, xây dựng đời sống văn hóa - tinh thần của xã hội.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Phương pháp luận chủ đạo của luận án là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nghiên cứu vận dụng các nguyên tắc và thao tác nghiên cứu cụ thể:
- Kết hợp lịch sử và logic: Khảo cứu sự phát triển của trí thức qua các thời kỳ lịch sử dân tộc (từ Nho học đến mácxít) gắn với logic vận động của các hình thái kinh tế - xã hội.
- Phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa: Xử lý các hiện tượng xã hội, tư liệu lý luận và báo cáo ngành.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: Đối chiếu cơ cấu trình độ, ngoại ngữ giữa ngành KHXH&NV với các ngành khoa học tự nhiên - kỹ thuật.
- Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê: Tổng hợp số liệu thực tế về nhân lực, đào tạo, đề tài khoa học và ngân sách tài chính.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được khai thác từ các văn kiện Đại hội Đảng, các báo cáo tổng kết của Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và số liệu khảo sát các viện nghiên cứu chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn. Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam
Chương 1 gồm 3 tiết, tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng, đặc điểm nghề nghiệp, vai trò xã hội và những đặc thù lịch sử của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam.
1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trí thức KHXH&NV
Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm mang tính quy luật của trí thức KHXH&NV:
- Đòi hỏi hiểu biết liên ngành, vốn sống và trải nghiệm thực tiễn: Do đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội phức tạp, biến động, trí thức KHXH&NV cần tri thức rộng ở các ngành gần kề; độ tuổi đạt độ chín muồi và trở thành chuyên gia đầu ngành thường cao hơn so với khoa học tự nhiên.
- Tính chính trị - xã hội cao và năng động: Lao động của trí thức KHXH&NV gắn liền với đấu tranh tư tưởng và định hướng chính trị; họ vừa là nhà khoa học vừa là chủ thể mang lập trường chính trị nhất định.
- Sản phẩm lao động phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởng: Sản phẩm là những công trình mang tính cá nhân hóa cao ("đứa con tinh thần"), tạo ra tác động gián tiếp lâu dài và chịu độ rủi ro chính trị nhất định, đòi hỏi bản lĩnh và môi trường tự do học thuật an toàn.
- Phương pháp nghiên cứu đòi hỏi mức độ khái quát hóa, trừu tượng hóa cao: Không thể sử dụng công cụ thực nghiệm vật lý đơn thuần mà phải dùng sức mạnh trừu tượng hóa tư duy để tìm ra bản chất quy luật.
Về vai trò, tác giả xác định 4 chức năng xã hội cơ bản:
- Quyết định trong việc xây dựng và phát triển các quan điểm, hệ thống tư tưởng học thuật KHXH&NV.
- Truyền bá tri thức, đào tạo và phát triển nhân cách, đạo đức con người xã hội (với quy luật "To teach is to learn more").
- Thực hiện phê bình, phản biện, tư vấn, giám định và dự báo xã hội (dẫn chiếu luận điểm của Paul Alexandre Baran về trí thức như nhà phê bình xã hội).
- Trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển mô hình xã hội thông qua cung cấp cơ sở lý luận cho đường lối chính trị và trực tiếp tham gia lãnh đạo, quản lý bộ máy nhà nước.
2. Đặc điểm đặc thù của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
- Ra đời và phát triển gắn với cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH: Từ dấu mốc Đề cương Văn hóa Việt Nam (1943), Cách mạng Tháng Tám (1945), việc thành lập Trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học cơ bản (1951) và Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học theo Quyết định số 34 NQ/TƯ ngày 1953 của Trung ương Đảng.
- Kế thừa truyền thống trí thức trong lịch sử: Lịch sử khoa cử Nho học từ năm 1075 (Quốc Tử Giám) qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn với 183 khoa thi, đào tạo 2.898 tiến sĩ và tương đương, 47 trạng nguyên, 48 bảng nhãn, 75 thám hoa; tiếp nối di sản của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Nguyễn Du.
- Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận: Chuyển biến từ thế giới quan Nho giáo sang lập trường duy vật biện chứng (như trường hợp học giả Đào Duy Anh).
- Là một bộ phận trong liên minh công - nông - trí thức: Cương lĩnh năm 1991 khẳng định khối liên minh này là nền tảng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Chương 2: Thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới vừa qua
Chương 2 gồm 2 tiết, đánh giá toàn diện những thành tựu đạt được, các hạn chế tồn tại, chỉ ra nguyên nhân và các mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn.
1. Thành tựu đạt được
- Cung cấp luận cứ khoa học cho đường lối đổi mới: Góp phần tổng kết thực tiễn, làm rõ con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Đào tạo nguồn nhân lực và truyền bá tri thức: Đẩy mạnh giảng dạy lý luận chính trị, khoa học nhân văn trong hệ thống đại học, cao đẳng và hệ thống các trường Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các phân viện).
- Tham gia thẩm định, phản biện xã hội: Bước đầu đóng góp ý kiến cho các dự án kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập.
2. Hạn chế và bất cập
- Lý luận còn chậm trễ, tính dự báo chưa cao: Chưa lý giải thấu đáo nhiều vấn đề thực tiễn mới nảy sinh trong nền kinh tế thị trường; năng lực tổng kết thực tiễn còn yếu.
- Cơ cấu đội ngũ mất cân đối: Sự phân bổ không đều giữa các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy và quản lý; cơ cấu độ tuổi có biểu hiện lão hóa, nguy cơ hẫng hụt thế hệ kế cận đầu ngành.
- Năng lực ngoại ngữ và phương pháp nghiên cứu hiện đại còn hạn chế: Khả năng tiếp cận tri thức quốc tế và công bố khoa học còn thấp.
- Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc và tài chính cho nghiên cứu còn thiếu thốn: Cơ chế quản lý đề tài còn hành chính hóa, kinh phí phân bổ cho các viện nghiên cứu KHXH&NV còn hạn hẹp.
Dưới đây là danh mục các bảng biểu thống kê thực trạng được luận án xây dựng và xử lý dữ liệu:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng số liệu trong luận án |
| Bảng 1 |
Cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam theo lĩnh vực lao động |
| Bảng (không số) |
Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học |
| Bảng (không số) |
Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục |
| Bảng (không số) |
Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, hoạt động kinh tế - xã hội |
| Bảng (không số) |
Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam |
| Bảng (tr. 55) |
Số lượng đề tài khoa học trường Đại học KHXH&NV Hà Nội |
| Bảng 1 (mục 2.1) |
Tình hình nghiên cứu của đội ngũ trí thức KHXH&NV |
| Bảng (không số) |
Số sinh viên/học viên tuyển hàng năm của trường Đại học KHXH&NV Hà Nội |
| Bảng (không số) |
Số lượng cán bộ đã qua đào tạo đại học chính trị và cao cấp lý luận chính trị ở hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các phân viện |
| Bảng (không số) |
Số trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học ở nước ta |
| Bảng (không số) |
Số học sinh, sinh viên trong các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học ở nước ta |
| Bảng (không số) |
Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam so với các ngành khác |
| Bảng (không số) |
Nguồn tài chính của các viện nghiên cứu được điều tra |
3. Các mâu thuẫn cơ bản và nguyên nhân
Luận án phát hiện 3 mâu thuẫn chủ yếu:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới với trình độ, năng lực thực tế còn nhiều hạn chế của đội ngũ trí thức KHXH&NV.
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu cống hiến, sáng tạo của trí thức với cơ chế quản lý khoa học, chính sách sử dụng, đãi ngộ và môi trường làm việc còn bất cập.
- Mâu thuẫn giữa tính cấp bách của việc bổ sung lực lượng kế cận với sự thiếu hụt các chính sách thu hút, bồi dưỡng tài năng trẻ trong lĩnh vực KHXH&NV.
Nguyên nhân của thực trạng bao gồm: công tác quản lý khoa học chậm đổi mới; nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vai trò của KHXH&NV chưa đầy đủ; sự đầu tư tài chính chưa tương xứng; bản thân một bộ phận trí thức chưa chủ động tự học tập, rèn luyện nâng cao trình độ.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Chương 3 gồm 2 tiết, xây dựng hệ thống quan điểm mang tính định hướng và 5 nhóm giải pháp cụ thể nhằm phát huy tối đa vai trò của lực lượng này.
1. Các quan điểm chỉ đạo cơ bản
- Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
- Phát huy vai trò của trí thức KHXH&NV gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, CNH, HĐH đất nước.
- Kết hợp đồng bộ giữa việc tạo điều kiện vật chất, môi trường tự do học thuật với việc bồi dưỡng lý tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp của người trí thức.
- Coi việc phát triển đội ngũ trí thức KHXH&NV là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội.
2. Hệ thống các giải pháp thực hiện
- Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KHXH&NV: Xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính bao cấp trong nghiên cứu khoa học; đổi mới phương thức tuyển chọn, giao đề tài theo hướng cạnh tranh công khai, minh bạch; tăng cường gắn kết giữa cơ sở nghiên cứu (viện) với cơ sở đào tạo (trường đại học).
- Hoàn thiện chính sách đãi ngộ, sử dụng và tôn vinh trí thức: Cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp nghề nghiệp đặc thù; bảo đảm quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ; tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và phương tiện làm việc; thiết lập "hành lang an toàn" và cơ chế bảo đảm để trí thức mạnh dạn tìm tòi, sáng tạo lý luận.
- Quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức KHXH&NV: Xây dựng chiến lược đào tạo cán bộ khoa học đầu ngành; chú trọng đào tạo cán bộ trẻ; đẩy mạnh nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.
- Tạo lập môi trường dân chủ, phát huy vai trò phản biện xã hội: Thể chế hóa quy trình tư vấn, phản biện khoa học của các tổ chức nghiên cứu KHXH&NV đối với các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
- Nâng cao tính tự giác, trách nhiệm xã hội và bản lĩnh chính trị của bản thân người trí thức: Khuyến khích trí thức tự bồi dưỡng, gắn bó với thực tiễn đời sống nhân dân, chống biểu hiện thụ động hoặc lệch lạc về tư tưởng chính trị.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ một cách có hệ thống khái niệm, đặc điểm và 4 vai trò cơ bản của trí thức KHXH&NV đối với sự phát triển xã hội; chỉ ra các đặc điểm đặc thù mang tính lịch sử của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam (ra đời trong cách mạng giải phóng dân tộc, chuyển biến từ Nho học sang mácxít, liên minh với công nông).
- Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV từ năm 1986 đến năm 2005 thông qua các số liệu thống kê cụ thể; làm rõ các thành tựu, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân căn bản; nhận diện rõ 3 mâu thuẫn thực tế đang nảy sinh trong quá trình phát triển của đội ngũ này.
- Về mặt chính sách và giải pháp: Luận giải tính khoa học của hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm đổi mới cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ, đào tạo thế hệ kế cận và phát huy vai trò phản biện xã hội của trí thức KHXH&NV Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của công trình: Luận án hoàn thành năm 2005, do đó phạm vi khảo sát thực tế và các số liệu thống kê chỉ phản ánh thực trạng của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong 20 năm đầu đổi mới (1986–2005). Các số liệu khảo sát tập trung chủ yếu ở các trường đại học lớn và viện nghiên cứu trọng điểm tại Hà Nội và một số trung tâm đô thị lớn, chưa bao quát sâu sắc thực trạng trí thức KHXH&NV tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động của quá trình toàn cầu hóa, kinh tế số và cách mạng công nghiệp đối với năng lực hội nhập quốc tế của trí thức KHXH&NV; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế định lượng hóa hiệu quả đóng góp của các công trình KHXH&NV vào sự phát triển kinh tế - xã hội; khảo sát cơ chế thu hút trí thức KHXH&NV kiều bào ở nước ngoài đóng góp cho đất nước.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, Lịch sử, Quản lý khoa học và Giáo dục học: Sử dụng Chương 1 để tham khảo khung lý luận về đặc điểm, bản chất và phân loại trí thức; tham khảo hệ thống tổng quan tài liệu phong phú về các công trình nghiên cứu trí thức từ năm 1988 đến năm 2004.
- Giảng viên giảng dạy lý luận chính trị và khoa học xã hội: Sử dụng các tư liệu lịch sử về khoa cử Việt Nam, quá trình hình thành các cơ sở nghiên cứu đầu tiên (như Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học năm 1953) để làm phong phú bài giảng.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý khoa học (Ban Tuyên giáo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo): Tham khảo Chương 2 và Chương 3 để có căn cứ thực tiễn xây dựng các quy chế tuyển chọn đề tài, cơ chế tài chính đặc thù, quy hoạch đào tạo cán bộ đầu ngành và hoàn thiện cơ chế phản biện xã hội đối với các chính sách công.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "trí thức" được luận án định nghĩa dựa trên những đặc trưng cơ bản nào?
Luận án xác định 4 đặc trưng: (1) Là người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo; (2) Sản phẩm lao động là tri thức khoa học mới; (3) Có trình độ học vấn và chuyên môn cao (từ cao đẳng trở lên); (4) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa trí thức KHXH&NV và trí thức khoa học tự nhiên - kỹ thuật theo phân tích của tác giả là gì?
Trí thức KHXH&NV nghiên cứu con người và quan hệ xã hội, đòi hỏi vốn sống, trải nghiệm thực tiễn và hiểu biết liên ngành, do đó độ tuổi chín muồi khoa học thường cao hơn. Sản phẩm của họ mang tính chính trị - tư tưởng cao, phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả ("đứa con tinh thần"), tác động gián tiếp nhưng rộng lớn đến cộng đồng và có mức độ rủi ro chính trị cao hơn, đòi hỏi phương pháp trừu tượng hóa cao độ thay vì thực nghiệm cơ học.
3. Cơ quan nghiên cứu KHXH&NV đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập khi nào?
Đó là Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học, được thành lập theo Quyết định số 34 NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào năm 1953, tiền thân của Ủy ban Khoa học Xã hội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam sau này.
4. Luận án đã chỉ ra những mâu thuẫn chủ yếu nào trong thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV thời kỳ đổi mới?
Tác giả chỉ ra 3 mâu thuẫn: (1) Yêu cầu phát triển cao của đất nước đối lập với năng lực thực tế còn hạn chế của đội ngũ; (2) Khát vọng cống hiến của trí thức đối lập với cơ chế quản lý khoa học, chính sách đãi ngộ còn nhiều bất cập; (3) Tính cấp bách của yêu cầu chuyển giao thế hệ đối lập với tình trạng thiếu hụt chính sách thu hút, bồi dưỡng nhân lực kế cận.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để phát huy vai trò của trí thức KHXH&NV?
Gồm 5 nhóm giải pháp: Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KHXH&NV; Hoàn thiện chính sách đãi ngộ, sử dụng, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo hành lang an toàn học thuật; Quy hoạch đào tạo cán bộ trẻ và nâng cao trình độ ngoại ngữ; Xây dựng môi trường dân chủ và thể chế hóa hoạt động phản biện xã hội; Nâng cao bản lĩnh chính trị và tính tự giác rèn luyện của bản thân người trí thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Phượng đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong giai đoạn 1986–2005. Công trình làm rõ bản chất, đặc thù lịch sử và 4 vai trò chức năng cốt lõi của lực lượng này trong việc cung cấp luận cứ khoa học, đào tạo con người và phản biện xã hội. Dựa trên việc phân tích các thành tựu, hạn chế và 3 mâu thuẫn thực tiễn, luận án đã đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách khoa học và phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới.