Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến KCN, KCX Từ năm 1986 đến nay, khi Đảng, Nhà nước ta có chủ trương xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX) đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan tới loại hình phát triển này. Về những khái niệm cơ bản có liên quan đến KCN, KCX. Thuật ngữ Khu công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX) trên thế giới được hiểu theo rất nhiều quan điểm khác nhau.
- Theo quan điểm của Tổ chức công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) (1990) trong tài liệu “KCX tại các nước đang phát triển” (Export Processing Zone in Developing Countries), “KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt hơn so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó, đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế” [Mai Ngọc Cường, 38]. Theo quan điểm của Hiệp hội KCX thế giới (World Export Processing Zone Association - WEPZA), “KCX không chỉ bao gồm khu vực công nghiệp chuyên môn hoá sản xuất xuất khẩu như trên mà còn bao gồm cả những khu vực được chính phủ cho phép như khu cảng tự do, khu tự do thuế quan, khu mậu dịch tự do, khu quá cảng. Như vậy, theo khái niệm này, KCX đã được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu phi thuế quan, KCN tự do, khu ngoại thương tự do,.
Từ quan điểm này, cùng với nhu cầu phát triển của các mối quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng cũng như xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển, khái niệm này đã được bổ sung thêm bằng những quan niệm mới và những đặc điểm mới như khu kinh tế mở, thành phố mở, đặc khu kinh tế,. Những quan điểm về KCX, KCN ở trên, dù có những điểm khác nhau, nhưng về cơ bản chúng thống nhất ở những đặc trưng sau đây: (i) Là một phần không thể tách rời của một quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, với hàng rào giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính phủ nước đó cho phép xây dựng và phát triển. (ii) Là nơi hội tụ và thích ứng 7 luan an lẫn nhau về lợi ích và một số mục tiêu xác định giữa các chủ đầu tư và nước chủ nhà. Vì thế, chúng là nơi có môi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế tự do và các chính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng còn lại ở nội địa.
Chúng thường có vị trí thuận lợi cho phát triển sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư trên cơ sở các chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, tài chính, tiền tệ, thủ tục hành chính,. (iii) Là nơi hội tụ mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài để phát triển các loại hình kinh doanh phục vụ xuất khẩu. Đây là một địa bàn tự do thu nhỏ về chính sách kinh tế – xã hội mở cửa của nước chủ nhà. Căn cứ vào những quan niệm chung của thế giới và những đặc trưng chung nhất của các KCN, KCX như trên, việc phát triển các KCN ở Việt Nam được đánh giá là nhằm mục đích đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của lực lượng sản xuất trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về phía Việt Nam, theo Nghị định 192/CP ngày 25 tháng 12 năm 1994 của chính phủ về Quy chế KCN, các KCN được định nghĩa là “các khu vực công nghiệp tập trung, được thành lập do quyết định của Chính phủ với các ranh giới được xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và không có dân cư”. Còn Điều 2 Nghị định 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của chính phủ ban hành về Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao có đưa ra khái niệm đầy đủ hơn về KCN và có giải thích một số thuật ngữ sau đây: (i) KCN là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. (ii) KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
(iii) Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu – triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất. (iv) Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo Quy chế này. (v) Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
(vi) Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công 8 luan an nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN. Và (vii) Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Từ những thuật ngữ trên đây, có thể đi đến một khái niệm chung nhất và mang tính toàn diện nhất là: KCN ở Việt Nam là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá công nghiệp, có thể dùng để phục vụ cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu, là nơi có ranh giới địa lý riêng biệt, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập và được hưởng những ưu đãi đặc biệt về sản xuất, xuất khẩu hàng hoá, cơ sở hạ tầng, huy động lực lượng lao động,. Ở Việt Nam, KCN thường được gọi theo một tên gọi khác, đó là: KCN tập trung, nó hàm ý bao gồm cả các KCN, KCX và Khu công nghệ cao [Mai Ngọc Cường, 38].
Các công trình của các tác giả như Nguyễn Chánh Dưỡng [47]; Trần Duy Đông [66]; Đinh Hoàng Dũng [45]; Tạp chí thông tin khoa học xã hội [101] và Bùi Quang Tuấn [123] đã có những đánh giá mang tính tổng kết quá trình hoạt động và chỉ ra vai trò to lớn của các mô hình KCN, KCX ở Việt Nam. Theo đó, các KCN và KCX đã thực sự là các cực tăng trưởng góp phần vào đổi mới môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam và các địa phương; thu hút lượng vốn lớn đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh; thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực và đóng góp về phát triển kinh tế- xã hội. Các tác giả Bạch Minh Huyền [83]; Nguyễn Huy Thám [103]; Ngô Văn Điểm [64]; Nguyễn Chơn Trung – Trương Giang Long (đồng chủ biên) [118]; Vũ Anh Tuấn [121]; Phạm Thắng [106]; Vũ Huy Hoàng [81]; Nhà xuất bản chính trị quốc gia [93]; Vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) [130];. đã điểm lại thực trạng xây dựng và phát triển của các KCN, KCX ở Việt Nam trong suốt gần 30 năm qua theo từng mốc thời gian, chỉ ra những thành công và những hạn chế của mô hình kinh tế này cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng về nhận thức, về chính sách tài chính, tiền tệ, cơ chế pháp luật, trình độ công nghệ, TBMM, đặc biệt những hạn chế về nguồn nhân lực,.
từ đó đề xuất những định hướng phát triển và giải pháp khắc phục. Ngoài những công trình nghiên cứu về KCN, KCX Việt Nam nói chung, còn có nhiều công trình bàn về thực trạng xây dựng và phát triển của các KCN, KCX ở một số vùng và địa phương Việt Nam, chỉ ra những điểm đặc thù riêng có của mỗi địa phương, những cách làm sáng tạo, những hạn chế của từng địa phương về năng lực, điều kiện, rút ra một số bài học,. và đề xuất một số giải 9 luan an pháp và kiến nghị hoàn thiện. Tiêu biểu trong số đó là các tác giả Phạm Sơn Khanh [86]; Trần Thị Dung [40]; Lê Tuấn Dũng [41]; Nguyễn Quang Lân [87]; Hà Thị Thúy [114]; Ban Quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh [11]; Ban Quản lý KCN tỉnh Bình Dương [12]; Ban Quản lý KCN tỉnh Đồng Nai [13]; Ban Quản lý KCN&KCX TP Hà Nội [14]; Ban Quản lý KCX&KCN TPHCM [15];.
Đó là những kiến thức cơ bản về KCN, KCX nói chung và Việt Nam nói riêng mà tác giả Luận án sẽ tiếp thu để làm nền cho việc nghiên cứu về NNL và CLNNL tại các KCN TPHCM cho đến nay và tầm nhìn đến năm 2030. Những nghiên cứu có liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực 1. Những nghiên cứu trong nước về chất lượng nguồn nhân lực 1. Nội dung của chất lượng nguồn nhân lực Quan điểm phổ biến đều cho rằng CLNNL là chất lượng của các nguồn lực nằm trong mỗi con người và được họ sử dụng vào quá trình lao động.
Theo Nguyễn Đức Thành [104], Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân [99], các nguồn lực đó bao gồm thể lực và trí lực; còn theo Nguyễn Thị Hồng Cẩm [32] và Lê Thị Hồng Điệp [65], ngoài thể lực, trí lực, còn bao gồm cả nhân cách; theo Mai Quốc Chánh [34], các nguồn lực đó gồm có thể lực, trí lực và nhân cách, phẩm chất; Còn theo Nguyễn Hữu Dũng [43], không chỉ có thể lực, trí lực và nhân cách, CLNNL còn bao gồm cả tính năng động xã hội của con người.